Tình cảm Bác Hồ gửi gắm miền Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt mấy nghìn năm lịch sử: 'Không có gì quý hơn độc lập, tự do'; 'Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ'. Đối với miền Nam, một nửa nước kiên cường và bất khuất, đi trước về sau trong cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm rất đặc biệt.
Bác luôn luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam, ngày đêm Người nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam với tấm lòng thương yêu không bờ bến.
Bác thường dùng những lời thắm thiết nhất khi nói đến miền Nam. Người gọi miền Nam là "máu của máu Việt Nam", "thịt của thịt Việt Nam". Người nói: "Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi". "Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên"([1]). Như thế đó, trong từng giấc ngủ, trong từng bữa ăn, trong mỗi niềm vui, Bác đều dành cho miền Nam “Thành đồng Tổ quốc”.
Ngày 8-5-1963, tại Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa II, khi biết tin Quốc hội có ý định tặng Người Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời phát biểu ngắn. Bác “rất cảm động và sung sướng” và "xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội", nhưng "tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội".
Bác nói: "Đồng bào miền Nam thật là những người con anh hùng của dân tộc anh hùng Việt Nam. Miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc” và xứng đáng được tặng Huân chương cao quý nhất”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chào đón đoàn đại biểu Anh hùng chiến sĩ thi đua các lực lượng giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, tháng 11-1965. Ảnh: Tư liệu/TTXVN
Bác đề nghị: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng ([2]).
Nghe Bác đọc lời phát biểu, lại thêm xúc động biết bao khi nghĩ đến những cống hiến, hy sinh của Người cho Tổ quốc, cho cách mạng, thấy rõ tinh thần trách nhiệm cao quý của Người trước sự nghiệp cách mạng của nhân dân, càng hiểu thêm tình cảm thắm thiết của Bác Hồ đối với miền Nam ruột thịt.
Cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng được Bác nâng niu, chăm sóc, cho trồng ngay tại ngôi nhà sàn Bác ở; tấm bản đồ “Bố trí binh lực địch ở miền Nam Việt Nam đến tháng 8-1969” được treo ở ngôi nhà 67 là nơi Bác thường đối diện, trầm tư. Vào các dịp lễ, Tết, điều đầu tiên Bác nghĩ tới là đi thăm các trường con em miền Nam, “vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó" ([3]).
Bác luôn luôn ghi nhớ những chiến công của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, nhất là của các cháu thanh niên và nhi đồng. Lúc tiếp khách nước ngoài, Bác thường đem những câu chuyện đó kể với khách và niềm sung sướng làm nét mặt của Bác tươi sáng hẳn lên. Lúc đọc những lời kêu gọi cũng như những bài thơ chúc Tết, Bác biết rằng đồng bào cả nước đều lắng nghe, Bác cũng biết rất rõ rằng đồng bào và chiến sĩ miền Nam càng lắng nghe Bác với niềm tin tưởng, như được cổ vũ và truyền thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Những đồng chí được sống gần Bác hay những người con của miền Nam “Thành đồng Tổ quốc” dù chỉ được gặp Bác trong phút giây ngắn, cũng đều thấy được lòng nhớ thương của Bác đối với miền Nam. Ngay trong lúc cuộc chiến đấu còn rất ác liệt, Bác đã có ý định vào thăm đồng bào và đồng chí ở trong đó. Bác có ý định ấy từ lâu, nhưng giữa năm 1965, lúc Bác 75 tuổi, ý định ấy càng mãnh liệt. Bác trao đổi với một số đồng chí. Năm 1968, Bác lại nêu ra vấn đề đi miền Nam một cách rất kiên quyết với những đồng chí có trách nhiệm. Thấy một số đồng chí ngại sức khỏe của Bác không bảo đảm cho chuyến đi, Bác nói: "Cán bộ đi được, sao Bác không đi được?".
Bác quyết tâm và tìm hiểu việc đi đường để chuẩn bị. Nghe trình bày đường đi, Bác thấy chỉ còn cách đi bộ là tốt hơn cả. Và dù đã mệt, nhưng hằng ngày Bác vẫn tập đi bộ, leo dốc. Tại nơi ở của Bác trong khu Phủ Chủ tịch, từ Nhà sàn đến đình Hội Đồng, có con đường nhỏ dài chừng hơn 200m, cây cỏ rậm rạp không người qua lại, đã trở thành con đường mòn Bác đi bộ hằng ngày. Người đặt tên con đường nhỏ đó là đường Trường Sơn (sau này, khi Người qua đời mọi người mới hiểu Bác dùng con đường này tập luyện hằng ngày để có thể vượt Trường Sơn vào Nam thăm đồng bào, đồng chí).
Những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, khi ốm mệt, Bác không nhắc đến chuyến đi, nhưng dặn đồng chí thư ký Vũ Kỳ rằng, hễ cán bộ ở miền Nam ra thì phải cho vào gặp Bác. Hầu như tất cả đoàn cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc, Bác đều đến tận nơi thăm hỏi hoặc mời về Nhà sàn nói chuyện, ăn cơm cùng Bác. Có những anh hùng, chiến sĩ tiêu biểu của miền Nam được Bác đón tiếp nhiều lần, như các chị Trần Thị Lý, Tạ Thị Kiều, Huỳnh Thị Kiển và các cháu thiếu niên dũng sĩ diệt Mỹ như Hồ Thị Thu, Đoàn Văn Luyện...
Bác đã dành cho những người con ưu tú của Quân Giải phóng miền Nam tình cảm, sự quan tâm bao la của người cha, người ông đối với cháu con, từ những việc rất nhỏ như lo các anh, các chị có mặc đủ ấm không trước cái rét của miền Bắc; căn dặn các đồng chí bên Tổng cục Chính trị phải hết sức chăm sóc, làm các món ăn địa phương thì các cháu miền Nam mới ăn được nhiều, sức khỏe mới tốt... Mỗi lần gặp các đồng chí miền Nam, Bác đều chuẩn bị cẩn thận, không để cho biết Bác mệt. Những bữa ăn cơm với các đồng chí miền Nam, Bác cố ăn thêm lưng cơm để chứng tỏ Bác còn khỏe.
Trong hồi ký của mình, Đại tướng Lê Đức Anh kể lại: “Bác ăn hết một bát cơm đầy rồi bảo: “Chú thấy Bác còn khỏe đấy! Chú hãy chuẩn bị cho Bác đi vào thăm đồng bào và chiến sĩ miền Nam”. Lúc này, tôi rất hiểu tâm trạng và tấm lòng yêu thương của Bác... Tôi cố nén xúc động, im lặng, chỉ “vâng”, chứ không dám hứa với Bác” ([4]). Ngày ngày, khi còn có thể đi lại được, Bác vẫn tập đi, khi khỏe, Bác lại tập leo dốc. Qua được dốc ngắn, Bác lại leo dốc dài. Thấy Bác tập leo dốc, anh em lại thấy: Ý định vào với đồng bào miền Nam vẫn theo đuổi Bác ngay cả khi Bác đã lâm bệnh nặng.
Những ngày cuối cùng nằm trên giường bệnh. Thấy các đồng chí trong Bộ Chính trị vào thăm, Bác chủ động hỏi: “Miền Nam hôm nay thắng ở những đâu? Các chú định tổ chức Lễ Quốc khánh năm nay thế nào? Các chú cố thu xếp để Bác ra với đồng bào dăm, mười phút!”. Đến ngày 30-8-1969, Bác còn hỏi han và dặn dò các đồng chí trong Bộ Chính trị như vậy. Những lời hỏi chuyện cuối cùng của Bác mãi mãi ghi sâu vào trái tim mỗi người. Bác luôn luôn nhớ tới miền Nam! Đúng là "miền Nam trong trái tim tôi" như Bác đã từng nói.
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQGST, H.2023, t.4, tr.470
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.14, tr.79-80
[3] Lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng
[4] Đại tướng Lê Đức Anh: Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng (hồi ký), Nxb. CTQG, H.2015, tr.152











