Tinh giản biên chế theo Nghị định 154: Các trường hợp phải hoàn trả trợ cấp

Nếu tự ý nghỉ việc trước, người lao động có thể bị xem là tự ý nghỉ việc theo chế độ thông thường và mất toàn bộ trợ cấp ưu đãi của Nghị định 154.

Trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã nghỉ việc và hưởng chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, nếu được ký hợp đồng lao động theo Nghị định số 235/2026/NĐ-CP vào làm việc tại ban quản lý dự án thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thì không phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận.

Trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã nghỉ việc và hưởng chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, nếu được ký hợp đồng lao động theo Nghị định số 235/2026/NĐ-CP vào làm việc tại ban quản lý dự án thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thì không phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận.

Nghị định số 154/2025/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 15/6/2025 và chính thức có hiệu lực từ ngày 16/6/2025, thay thế cho Nghị định số 29/2023/NĐ-CP. 

Với lộ trình thực hiện kéo dài đến hết ngày 31/12/2030, nghị định này mang lại những điều chỉnh căn bản về chính sách tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ nhân sự. 

Để đảm bảo quyền lợi và thực hiện đúng pháp luật, cán bộ, công chức, viên chức và đặc biệt là người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố cần lưu ý những quy định cốt lõi dưới đây.

1. Khi nào phải hoàn trả lại tiền trợ cấp tinh giản biên chế theo Nghị định 154?

Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP, một người sau khi nghỉ việc và nhận tiền trợ cấp tinh giản biên chế phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền trợ cấp đã nhận nếu đáp ứng đồng thời hai điều kiện sau:

Về thời gian: Trong vòng 60 tháng kể từ ngày có quyết định thực hiện tinh giản biên chế.

Về hành vi: Người đó được bầu cử, tuyển dụng lại vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hoặc được bố trí làm người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.

Trường hợp đặc biệt được miễn hoàn trả trợ cấp:

Bộ Nội vụ đã có hướng dẫn làm rõ trường hợp ngoại lệ giúp tháo gỡ vướng mắc cho người lao động. Cụ thể: Trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã nghỉ việc và hưởng chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.

Nếu sau đó, người này được ký hợp đồng lao động theo Nghị định số 235/2026/NĐ-CP vào làm việc tại Ban Quản lý dự án thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thì không phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận.

2. 02 lưu ý lớn khi tính thời gian công tác hưởng trợ cấp đối với người KCT ở thôn, tổ dân phố

Tại Công văn số 8447/BNV-TCBC, Bộ Nội vụ đã hướng dẫn chi tiết cách xác định thời gian công tác để tính hưởng trợ cấp tinh giản đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (ấp, khóm, khu phố) chưa đến tuổi nghỉ hưu, nghỉ ngay sau khi có quyết định sắp xếp.

Theo quy định, thời gian công tác tính trợ cấp là tổng thời gian công tác ở chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố và thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc ở các vị trí việc làm khác. Tuy nhiên, người lao động cần đặc biệt lưu ý 02 điểm loại trừ quan trọng sau:

Lưu ý 1: Quá trình công tác trước ngày 01/11/2003 không được gọi là người hoạt động KCT thôn, tổ dân phố. Trước thời điểm ban hành Nghị định 121/2003/NĐ-CP của Chính phủ, hệ thống pháp luật chưa có văn bản quy định về chức danh người hoạt động KCT ở thôn, tổ dân phố. 

Do đó, những người giữ chức danh tương ứng ở các ấp, thôn trước ngày 01/11/2003 không được gọi là người hoạt động KCT ở thôn, tổ dân phố và giai đoạn này chưa được tính vào thời gian công tác để hưởng trợ cấp theo Nghị định 154.

Lưu ý 2: Chức danh Trưởng ban Công tác Mặt trận không thuộc đối tượng tính hưởng trợ cấp. Khi Nghị định 121/2003/NĐ-CP có hiệu lực, điều luật chỉ định danh cán bộ không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm: Bí thư Chi bộ thôn; trưởng thôn; công an viên ở thôn và Bí thư Chi bộ, tổ trưởng dân phố ở phường, thị trấn. 

Nghị định này hoàn toàn không quy định chức danh Trưởng ban Công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố là người hoạt động không chuyên trách. Vì thế, thời gian đảm nhiệm chức danh này không được cộng dồn để tính trợ cấp tinh giản.

Cách xác định mức phụ cấp làm căn cứ trợ cấp:

Khoản trợ cấp tinh giản biên chế được tính dựa trên phụ cấp hàng tháng hiện hưởng của chức danh hiện tại. 

Nghị định 154 quy định rõ: Chỉ tính phụ cấp hàng tháng của chức danh hiện hưởng và không tính phụ cấp hàng tháng của chức danh kiêm nhiệm.

3. Những ai chưa được giải quyết nghỉ thôi việc từ nay đến năm 2030?

Nghị định 154/2025/NĐ-CP quy định cụ thể hai nhóm đối tượng chính chưa thực hiện tinh giản biên chế nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động và tránh hiện tượng lợi dụng chính sách:

- Nhóm thai sản và nuôi con nhỏ: Những người đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. 

Họ sẽ không bị tinh giản biên chế, trừ trường hợp cá nhân tự nguyện thực hiện và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

- Nhóm đang xem xét trách nhiệm, vi phạm: Những người đang trong thời gian xem xét kỷ luật, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị thanh tra, kiểm tra do có dấu hiệu vi phạm. 

Việc tạm dừng này giúp ngăn chặn hành vi sử dụng chính sách tinh giản nhằm né tránh việc xử lý sai phạm. 

Sau khi có kết luận chính thức, các trường hợp này mới được xem xét tiếp.

Trường hợp đặc biệt không được giải quyết thôi việc cấp xã:

Đối với người hoạt động KCT cấp xã, nếu sau khi thôi giữ chức danh cấp xã vẫn tiếp tục đảm nhiệm chức danh khác ở thôn, tổ dân phố thì không thuộc đối tượng nghỉ hưởng trợ cấp theo Nghị định.

Lưu ý quan trọng cho người lao động trước khi nghỉ việc

Chính sách tinh giản biên chế mang lại nhiều quyền lợi thiết thực như chính sách thôi việc ngay, thôi việc sau khi học nghề (đối với người dưới 45 tuổi) hay nghỉ hưu trước tuổi. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi tối đa, người lao động cần nắm vững các nguyên tắc sau:

Không tự ý nghỉ việc trước khi có quyết định chính thức: Đơn xin tự nguyện tinh giản của cá nhân không thể thay thế quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền. 

Nếu tự ý nghỉ việc trước, người lao động có thể bị xem là tự ý nghỉ việc theo chế độ thông thường và mất toàn bộ trợ cấp ưu đãi của Nghị định 154.

Chủ động đối chiếu và phối hợp lập hồ sơ: Người lao động cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ nhân sự, xác nhận đóng Bảo hiểm xã hội và đề nghị cơ quan quản lý lập bảng tính chi tiết riêng về thời gian công tác, mức phụ cấp và số tiền trợ cấp dự kiến trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đỗ Tho

Nguồn Công dân & Khuyến học: https://congdankhuyenhoc.vn/tinh-gian-bien-che-theo-nghi-dinh-154-cac-truong-hop-phai-hoan-tra-tro-cap-17926090116283769.htm