Tổ chức không gian phát triển đất nước thành 6 vùng kinh tế - xã hội
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vừa ký chứng thực Nghị quyết số 252/2025 của Quốc hội khóa 15 sửa đổi, bổ sung về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Nghị quyết xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững; các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; có mạng lưới kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại; bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Nghị quyết xác định mô hình tổ chức không gian phát triển quốc gia hiệu quả, thống nhất, bền vững. Ảnh: Phạm Hải
Nghị quyết cũng đặt mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước; môi trường sinh thái được bảo vệ, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển toàn diện nguồn nhân lực, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam được nâng lên.
Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết số 252/2025 nêu rõ phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt trên 8%/năm thời kỳ 2021-2030, trong đó giai đoạn 2026-2030 đạt từ 10%/năm trở lên.
Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 8.500 USD. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt khoảng 7%/năm thời kỳ 2021-2030, trong đó giai đoạn 2026-2030 đạt trên 8,5%/năm. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%.
Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao.
Một mục tiêu nữa là phát huy lợi thế của từng vùng kinh tế - xã hội, tập trung phát triển 2 vùng động lực phía Bắc và phía Nam gắn với 2 cực tăng trưởng là Hà Nội và TPHCM, hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang kinh tế Mộc Bài - TPHCM - Biên Hòa - Vũng Tàu với kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có tốc độ tăng trưởng cao.

Một mục tiêu quan trọng của giai đoạn này là hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia. Ảnh: Hoàng Hà
Trong lĩnh vực giáo dục, nghị quyết của Quốc hội đề ra mục tiêu Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực; thuộc nhóm 10 quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất châu Á. Đồng thời, ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Một mục tiêu quan trọng khác là hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, bao gồm các trục giao thông đường bộ Bắc - Nam (đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, một số đoạn của đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Tây, đường ven biển), các trục giao thông Đông - Tây quan trọng, phấn đấu có khoảng 5.000km đường bộ cao tốc; các cảng biển cửa ngõ có chức năng trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không quốc tế lớn...
6 vùng kinh tế - xã hội của đất nước
Nghị quyết quy định tổ chức không gian phát triển đất nước thành 6 vùng kinh tế - xã hội; xây dựng mô hình tổ chức, cơ chế điều phối vùng để thực hiện liên kết nội vùng và thúc đẩy liên kết giữa các vùng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt khoảng 9-10%/năm trong giai đoạn 2026-2030; phát triển vùng theo hướng xanh, bền vững và toàn diện.
Vùng đồng bằng sông Hồng phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 11%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Vùng này còn được định hướng là động lực phát triển hàng đầu, có vai trò dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước.
Vùng Bắc Trung Bộ phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10-10,5%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Vùng này sẽ phát triển mạnh kinh tế biển; nâng cao hiệu quả hệ thống cảng biển, các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp...

Thành phố Cần Thơ. Ảnh: Hoàng Hà
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 9,5-10%/năm trong giai đoạn 2026-2030.
Vùng Đông Nam Bộ phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10-11%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Đông Nam Bộ được định hướng trở thành vùng phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế...
Vùng đồng bằng sông Cửu Long phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 9-9,5%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Vùng này được định hướng trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, năng động và hiệu quả cao của cả nước, khu vực và thế giới.













