Toàn cảnh bức tranh kinh tế quý 4 năm 2025 qua các con số

2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với Việt Nam, là năm cuối thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2025. Đây cũng là năm thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy Chính phủ, sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

Bên cạnh đó, đây cũng là năm có nhiều hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tạo động lực lớn cho cả nước phấn đấu, vươn lên thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Đồng thời, 2025 cũng là năm kinh tế nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Mưa, bão gây ngập lụt nghiêm trọng, lũ quét và sạt lở đất tại các địa phương đã ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân. Các tổ chức quốc tế đều cho rằng, tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực Đông Nam Á với 6,2 - 7,4%.

TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 4 năm 2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm 2024, đạt mức tăng cao nhất của quý 4 các năm trong giai đoạn 2011 - 2025. Đồng thời, duy trì với xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý 1 tăng 7,05%, quý 2 tăng 8,16%, quý 3 tăng 8,25%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,7%, đóng góp 5,13% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,73%, đóng góp 45,8%; khu vực dịch vụ tăng 8,82%, đóng góp 49,07%. Về sử dụng GDP quý 4 năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,15% so với cùng kỳ năm ngoái; Tích lũy tài sản tăng 8,92%; Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,34%; Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,4%.

GDP năm 2025 tăng trưởng ước đạt 8,02% so với năm 2024, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011 - 2025. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; Khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026USD, tăng 326USD so với năm 2024 (4.700USD).

Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 245 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809USD/lao động, tăng 626USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83%; trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 ước đạt 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024), tăng trưởng kinh tế đạt khá, quy mô nền kinh tế được mở rộng.

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2025 tăng 0,19% so với tháng 11/2025 do giá lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình tăng. So với cùng kỳ năm 2024, CPI tháng 12/2025 tăng 3,48%. CPI bình quân quý 4/2025 tăng 3,44% so với quý 4/2024. Lũy kế cả năm 2025, CPI tăng 3,31% so với năm ngoái, đạt mục tiêu đề ra. Trong mức tăng 0,19% của CPI trong tháng so với tháng 11/2025, có 9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

CPI bình quân quý 4/2025 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm 2024 trong đó: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,84%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,91%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,19%; Giáo dục tăng 3,17%; Hàng hóa và dịch khác tăng 3,05%; Đồ uống và thuốc lá tăng 2,2%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,58%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,42%; Giao thông tăng 0,18% và Thông tin và truyền thông giảm 0,37%.

Lạm phát cơ bản trong tháng tăng 0,23% so với tháng 11/2025 và tăng 3,27% so với cùng kỳ năm 2024. Bình quân năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,21% so với năm ngoái, thấp hơn mức tăng 3,31% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ

Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch nội địa tăng, đặc biệt trong các sự kiện kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, cùng với sự bứt phá về thu hút khách quốc tế đến Việt Nam đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng của ngành thương mại, dịch vụ trong năm 2025.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý 4/2025 ước tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,2% so với năm ngoái, trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,6% và doanh thu du lịch lữ hành tăng 20,2%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành trong tháng ước đạt 627,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9% so với tháng 11/2025 và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, doanh thu nhóm hàng may mặc tăng 13,8% so với cùng kỳ năm ngoái; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,4%; lương thực, thực phẩm tăng 9,7%; vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 6,2%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 14,2% và du lịch lữ hành tăng 19,9%.

Quý 4/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.833,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3% so với quý 3/2025 và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2024. Năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2024 nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (tương đương mức tăng năm 2024).

Tính đến ngày 29/12/2025, giá vàng thế giới bình quân ở mức 4.356,45 USD/ounce, tăng 6,18% so với tháng 11/2025. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 12/2025 tăng 2,18% so với tháng 11/2025; tăng 70,37% so với cùng kỳ năm 2024; bình quân năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 47,67%.

Tính đến ngày 29/12/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,31 điểm, giảm 1,33% so với tháng 11/2025. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2025 tăng 0,17% so với tháng 11/2025; tăng 3,68% so với cùng kỳ năm 2024; bình quân năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,92%.

HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

Cũng trong tháng, cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký 166 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 100,6 nghìn lao động, tăng 13,9% về số doanh nghiệp, tăng 3,4% về vốn đăng ký và tăng 20,8% về số lao động so với tháng 11/2025. So với cùng kỳ năm 2024, tăng 71,6% về số doanh nghiệp, tăng 72,2% về số vốn đăng ký và tăng 5,1% về số lao động.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 12/2025 đạt 9,7 tỷ đồng, giảm 9,2% so với tháng 11/2025 và tăng 0,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 10 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2024.

Trong tháng, có 4.594 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 5,5% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm ngoái; 12.608 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 89,1% và giảm 36,6%; có 5.045 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 25,4% và tăng 115,1%.

Lũy kế năm 2025, cả nước có 195,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.919,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.151,4 nghìn lao động, tăng 24,1% về số doanh nghiệp, tăng 24,1% về vốn đăng ký và tăng 15,0% về số lao động so với năm 2024. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2025 đạt 9,8 tỷ đồng, tương đương năm 2024.

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2025 là gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024. Bên cạnh đó, cả nước có 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 34,3% so với năm 2024), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2025 lên 297,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm ngoái.

Bình quân một tháng có 24,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

CÁN CÂN XUẤT - NHẬP KHẨU

Trong tháng 12/2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 88,72 tỷ USD, tăng 15,1% so với tháng 11/2025 và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm ngoái, trong đó xuất khẩu tăng 17%; nhập khẩu tăng 19,4%.

Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng 11/2025. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,7 tỷ USD, tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,33 tỷ USD, tăng 11,2%. So với cùng kỳ năm 2024, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 23,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 9,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 38,4%.

Trong quý 4/2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 126,3 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái và giảm 1,7% so với quý 3/2025. Lũy kế cả năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2024. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1%, chiếm 77,3%.

Trong năm 2025, có 36 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,2%).

Nhập khẩu hàng hóa:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% so với tháng 11/2025. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 14,57 tỷ USD, tăng 28,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 30,11 tỷ USD, tăng 13%. So với cùng kỳ năm 2024, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 12/2025 tăng 27,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 43,4%.

Trong quý 4/2025, kim ngạch nhập khẩu đạt 123,1 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 2,9% so với quý 3/2025. Lũy kế cả năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm 2024, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỷ USD, giảm 2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỷ USD, tăng 31,9%.

Trong năm 2025, có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 9 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,8%).

CHỈ SỐ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP (IIP)

Chỉ số IIP quý 4/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,3% và ngành khai khoáng tăng 3,4%.

Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9,2% so với năm ngoái (năm 2024 tăng 8,2%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,7% (năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8% (năm 2024 tăng 10,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,5% (năm 2024 giảm 6,3%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Chỉ số IIP năm 2025 so với năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất và phân phối điện, ngành khai khoáng tăng thấp hoặc giảm.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực năm 2025 tăng cao so với năm 2024 như: Ô tô tăng 39,1%; Thép cán tăng 17,6%; Tivi tăng 17,4%; Thức ăn cho thủy sản và quần áo mặc thường cùng tăng 13,8%; Xi măng tăng 13,6%; Giày, dép da tăng 13,3%; Thủy hải sản chế biến tăng 11,1%; Phân hỗn hợp NPK tăng 10,7%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với năm ngoái như: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 5,6%; Vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 1%; Bột ngọt giảm 0,2%.

THU - CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Thu ngân sách Nhà nước năm 2025 ước tăng 29,7% so với năm 2024; Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 31,2%, đảm bảo đáp ứng nhu cầu cao hơn về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Thu ngân sách Nhà nước:

Tổng thu ngân sách Nhà nước trong tháng ước đạt 244,2 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, bằng 134,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm 2024. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa trong tháng ước đạt 214,2 nghìn tỷ đồng; Lũy kế năm 2025 ước đạt 2.279,9 nghìn tỷ đồng, bằng 136,7% dự toán năm và tăng 33,2% so với năm ngoái.

- Thu từ dầu thô trong tháng ước đạt 3,8 nghìn tỷ đồng; Lũy kế năm 2025 ước đạt gần 48 nghìn tỷ đồng, bằng 90,1% dự toán năm và giảm 18,2% so với năm 2024.

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng ước đạt 25,2 nghìn tỷ đồng; Lũy kế năm 2025 ước đạt 319,8 nghìn tỷ đồng, bằng 136,1% dự toán năm và tăng 18,2% so với năm ngoái.

Chi ngân sách Nhà nước:

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 12/2025 ước đạt 350,1 nghìn tỷ đồng; Lũy kế năm 2025 ước đạt 2.401,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm2024. Trong đó, chi thường xuyên năm 2025 ước đạt 1.553,0 nghìn tỷ đồng, bằng 97,2% dự toán năm và tăng 30,4% so với năm ngoái; Chi đầu tư phát triển ước đạt 732 nghìn tỷ đồng, bằng 92,6% và tăng 38,3%; Chi trả nợ lãi 109,4 nghìn tỷ đồng, bằng 99,0% và tăng 1%.

VẬN TẢI HÀNH KHÁCH VÀ HÀNG HÓA

Hoạt động vận tải năm 2025 tăng trưởng tích cực, đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch của người dân trong nước cũng như khách quốc tế đến Việt Nam và phục vụ hiệu quả cho hoạt động sản xuất cũng như xuất - nhập khẩu hàng hóa.

Vận tải hành khách tháng 12/2025 ước đạt 567,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3,8% so với tháng 11/2025 và luân chuyển 27 tỷ lượt khách/km, tăng 4,6%; Quý 4/2025 ước đạt 1.669,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2024 và luân chuyển đạt 78,7 tỷ lượt khách/km, tăng 11,5%.

Lũy kế năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 6.183,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 22,2% so với năm ngoái và luân chuyển đạt 312 tỷ lượt khách/km, tăng 13,6%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 6.164,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 22,2% so với năm 2024 và 250,5 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 15,5%; vận tải ngoài nước ước đạt 19,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 7,8% và 61,5 tỷ lượt khách/km luân chuyển, tăng 6,4%.

Vận tải hàng hóa tháng 12/2025 ước đạt 272,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 4,7% so với tháng 11/2025 và luân chuyển 53,7 tỷ tấn/km, tăng 3,4%; Quý 4/2025 ước đạt 799,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2024 và luân chuyển 160,2 tỷ tấn/km, tăng 9,9%.

Lũy kế năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 3.027,7 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,1% so với năm 2024 và luân chuyển 612,3 tỷ tấn/km, tăng 13,1%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 2.977,5 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,3% và 355,0 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 7,3%; vận tải ngoài nước ước đạt 50,2 triệu tấn vận chuyển, tăng 4,3% và 257,3 tỷ tấn/km luân chuyển, tăng 22,2%.

KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM

Các chính sách đột phá về thị thực, sự đổi mới mạnh mẽ trong công tác quảng bá, xúc tiến du lịch cùng với đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ đã thu hút đông đảo khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2025.

Trong tháng, khách quốc tế đến Việt Nam đạt hơn 2 triệu lượt người, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế năm 2025, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 21,2 triệu lượt người, tăng 20,4% so với năm ngoái.

Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt hơn 17,8 triệu lượt người, chiếm 84,3% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và tăng 20,2% so với năm 2024; Khách đến bằng đường bộ đạt gần 3,1 triệu lượt người, chiếm 14,4% và tăng 22,6%; Khách đến bằng đường biển đạt 273,9 nghìn lượt người, chiếm 1,3% và tăng 10,4%.

Mặc dù chưa đạt được mục tiêu đón 23 - 25 triệu lượt khách năm 2025 nhưng đây là lần đầu tiên du lịch Việt Nam đạt được cột mốc ấn tượng này, đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình phục hồi, hội nhập sâu rộng vào thị trường du lịch thế giới; khẳng định vị thế, uy tín, chất lượng của du lịch Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới, đồng thời là cơ sở để Việt Nam hướng tới mục tiêu thu hút lượng khách quốc tế cao hơn trong những năm tới.

Đồng thời, số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý 4/2025 đạt 1,3 triệu lượt người, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế năm 2025, số lượt người Việt Nam xuất cảnh là 6,7 triệu lượt người, tăng 26,4% so với năm 2024.

VỐN FDI ĐĂNG KÝ CẤP MỚI

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024, cao hơn nhiều mức tăng 7,8% của năm ngoái. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2024, cao nhất trong 5 năm qua.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý 4/2025 theo giá hiện hành ước đạt 1.445,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm ngoái bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 434,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19,8%; Khu vực ngoài Nhà nước đạt 793,3 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2%; Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 217,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8%.

Năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024 bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 1.233,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,7% tổng vốn và tăng 19,7%; Khu vực ngoài Nhà nước đạt 2.237,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,9% và tăng 8,4%; Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,4% và tăng 11,7%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 850,7 nghìn tỷ đồng, bằng 83,6% kế hoạch năm và tăng 26,6% so với năm 2024. Theo cấp quản lý, vốn Trung ương đạt 118,4 nghìn tỷ đồng, bằng 80,5% kế hoạch năm và tăng 6,2% so với năm ngoái; Vốn địa phương đạt 732,3 nghìn tỷ đồng, bằng 84,1% và tăng 30,6%.

Trong vốn địa phương quản lý, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 600,7 nghìn tỷ đồng, bằng 83,6% và tăng 36,3%; Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 131,6 nghìn tỷ đồng, bằng 86,6% và tăng 9,9%.

Trong số 90 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong năm 2025, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 4,84 tỷ USD, chiếm 27,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 3,64 tỷ USD, chiếm 21%; Đặc khu hành chính Hồng Kông (TQ) 1,73 tỷ USD, chiếm 10%; Nhật Bản 1,62 tỷ USD, chiếm 9,4%; Thụy Điển 1 tỷ USD, chiếm 5,8%; Đài Loan (TQ) 965,8 triệu USD, chiếm 5,6%; Hàn Quốc 895,9 triệu USD, chiếm 5,2%.

7 địa phương dẫn đầu về thu hút vốn FDI đăng ký cấp mới là TP.HCM, Bắc Ninh, Đồng Nai, Hải Phòng, Gia Lai, Hưng Yên và Ninh Bình.

Nam Anh

Nguồn Thương Gia: https://thuonggiaonline.vn/toan-canh-buc-tranh-kinh-te-quy-4-nam-2025-qua-cac-con-so-post567159.html