Tội phạm mạng đe dọa an ninh tài chính

Các cuộc tấn công mạng và thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi đang gia tăng sức ép lên hệ thống tài chính, ngân hàng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực phòng vệ, bảo vệ dữ liệu và tài sản khách hàng.

Hơn 500.000 hoạt động tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin được ghi nhận trong năm 2025, trong đó có những hệ thống thông tin trọng yếu của quốc gia. Tài chính ngân hàng là một trong những mục tiêu tấn công hàng đầu của các nhóm tội phạm mạng và tin tặc quốc tế.

Riêng sáu tháng đầu năm 2026, cơ quan chức năng ghi nhận gần 1.000 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, thông tin được Đại tá Nguyễn Bá Sơn, Phó Cục trưởng A05, Bộ Công an cho biết tại Diễn đàn An ninh tài chính số Việt Nam 2026 diễn ra mới đây tại TP.HCM.

Những con số này cho thấy sức ép ngày càng lớn đối với lĩnh vực tài chính ngân hàng khi hoạt động giao dịch dịch chuyển mạnh sang môi trường số. Nguy cơ không chỉ đến từ các cuộc tấn công mạng hay hành vi lừa đảo khách hàng mà còn phát sinh trong quá trình ứng dụng và vận hành công nghệ mới.

Đại tá Nguyễn Bá Sơn, Phó Cục trưởng A05, Bộ Công an. Ảnh: BTC

Đại tá Nguyễn Bá Sơn, Phó Cục trưởng A05, Bộ Công an. Ảnh: BTC

Mặt trái của số hóa ngân hàng

Một vụ gian lận thẻ ngân hàng với thủ đoạn đơn giản đã khiến khách hàng bị chiếm đoạt hơn 200 triệu đồng. Ông Sơn cho biết đối tượng trà trộn vào đội ngũ nhân viên tại một nhà hàng sang trọng, lợi dụng lúc khách hàng giao thẻ để thanh toán nhằm bóc tách chip trên thẻ vật lý. Con chip sau đó được gắn vào một phôi thẻ khác để thực hiện các giao dịch mua hàng gian lận.

Vụ việc cho thấy nguy cơ mất an toàn không chỉ xuất hiện khi hệ thống công nghệ bị tấn công mà còn có thể phát sinh ngay trong quá trình khách hàng sử dụng dịch vụ. Những thủ đoạn gian lận như vậy đòi hỏi ngân hàng phải tăng cường cảnh báo và kiểm soát rủi ro trong từng khâu giao dịch.

Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi quy mô thanh toán trên môi trường số liên tục mở rộng. Chỉ trong tám tháng đầu năm 2026, toàn ngành ngân hàng ghi nhận hơn 21 tỷ giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, với tổng giá trị trên 260 triệu tỷ đồng. Tại nhiều tổ chức tín dụng, tỷ lệ giao dịch qua kênh số đã vượt 95%. Đây là những số liệu được ông Hoàng Minh Tiến, Phó cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại sự kiện.

Quy mô giao dịch lớn đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường ứng dụng công nghệ để phát hiện và ngăn chặn gian lận. Trong đó, trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu, nhận diện giao dịch bất thường và cảnh báo sớm nguy cơ. Nhưng chính AI cũng đang bị các đối tượng tội phạm lợi dụng để giả mạo thông tin, thực hiện hành vi lừa đảo hoặc hỗ trợ các cuộc tấn công mạng.

Ngay trong hoạt động ngân hàng, việc ứng dụng công nghệ này cũng tiềm ẩn rủi ro nếu thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát kết quả.

Ông Nguyễn Tấn Lực, Giám đốc Giải pháp số Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank), cảnh báo tình trạng ứng dụng AI nhưng thiếu khả năng giải thích cách mô hình vận hành và xác định nguyên nhân khi xảy ra lỗi. Ông cho biết có những ứng dụng AI sau khi bàn giao cho bộ phận nghiệp vụ nhưng không ai giải thích được cách mô hình hoạt động, thậm chí không xác định được nguyên nhân khi hệ thống phát sinh lỗi.

Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả ứng dụng công nghệ mà còn đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của con người trong quá trình vận hành và kiểm soát AI.

Vì vậy, cùng với việc phòng ngừa các hành vi gian lận từ bên ngoài, ngân hàng còn phải kiểm soát những nguy cơ phát sinh trong chính quá trình phát triển và sử dụng công nghệ.

Tăng cường phòng vệ từ công nghệ đến con người

Báo cáo về chỉ tiêu chuyển đổi số năm 2026 được ông Tiến dẫn ra cho thấy kinh phí đầu tư cho an toàn, an ninh mạng tại các ngân hàng thương mại chiếm khoảng 17,2% tổng kinh phí đầu tư chuyển đổi số. Nhưng đầu tư cho công nghệ bảo mật mới chỉ là một phần trong việc bảo đảm an toàn hệ thống. Các ngân hàng còn phải phát hiện sớm nguy cơ, kịp thời xử lý sự cố, duy trì những dịch vụ quan trọng và nhanh chóng khôi phục hoạt động khi xảy ra gián đoạn.

Đặc biệt, an ninh mạng cần được xem là một nội dung trọng yếu trong quản trị điều hành, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, thay vì chỉ là công việc của bộ phận công nghệ thông tin.

Ngoài ra, việc kết nối và chia sẻ dữ liệu cũng có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa gian lận. Điển hình là Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO). Sau khoảng một năm vận hành, tính đến tháng 10/2026, hệ thống đã phát cảnh báo tới 5,8 triệu lượt khách hàng. Trong đó, 1,9 triệu lượt khách hàng tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, giúp bảo vệ tổng giá trị giao dịch gần 7.200 tỷ đồng.

Kết quả này cho thấy hiệu quả của việc cảnh báo ngay trong quá trình giao dịch. Thay vì chỉ tập trung xử lý sau khi tiền bị chiếm đoạt, việc kết nối và khai thác dữ liệu giúp các ngân hàng chủ động hơn trong phát hiện và ngăn chặn nguy cơ gian lận.

Cùng với đó, xác thực danh tính cũng được tăng cường nhằm hạn chế nguy cơ giả mạo khách hàng. Tính đến tháng 10/2026, toàn ngành đã đối chiếu, xác minh thông tin của hơn 178 triệu hồ sơ khách hàng tại các tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, phòng ngừa gian lận từ bên ngoài chưa phải là tất cả. Khi công nghệ tham gia ngày càng sâu vào hoạt động nghiệp vụ, các ngân hàng còn phải kiểm soát những rủi ro phát sinh ngay trong quá trình phát triển và vận hành hệ thống, đặc biệt là các ứng dụng AI.

Ông Nguyễn Tấn Lực, Giám đốc Giải pháp số HDBank. Ảnh: Huyền Châm

Ông Nguyễn Tấn Lực, Giám đốc Giải pháp số HDBank. Ảnh: Huyền Châm

Tại HDBank, yêu cầu này được thể hiện qua ba bài toán thực tế ứng dụng AI trong hoạt động nghiệp vụ. Trong quản trị tri thức, ngân hàng sử dụng kỹ thuật tạo sinh tăng cường truy xuất để tìm kiếm thông tin từ kho tài liệu nội bộ và đưa ra câu trả lời kèm nguồn tham chiếu cụ thể đến từng văn bản, điều khoản.

Cách làm này giúp nhân viên kiểm tra lại thông tin trước khi sử dụng, hạn chế nguy cơ áp dụng nhầm những quy định đã hết hiệu lực. Nhưng trách nhiệm đối với kết quả và quyền phê duyệt các nội dung liên quan đến chính sách, quy định sản phẩm vẫn thuộc về con người.

Ở hoạt động chăm sóc khách hàng, AI được ứng dụng để giám sát chất lượng tương tác qua điện thoại. AI phân tích âm lượng, thái độ trong cuộc trò chuyện và nhận diện những dấu hiệu khách hàng có ý định ngừng sử dụng dịch vụ, kể cả khi họ không thể hiện sự bất bình rõ ràng. Những trường hợp đáng chú ý được hệ thống đánh dấu để người quản lý kiểm tra. Nhưng hệ thống cũng tự động che thông tin cá nhân nhạy cảm để đảm bảo an toàn dữ liệu cá nhân.

Liên quan đến kiểm toán tự động. Trước đây, bộ phận kiểm toán thường chỉ chọn mẫu khoảng 60 tài khoản người dùng mỗi quý để kiểm tra tình trạng khóa tài khoản và quyền truy cập hệ thống. Nhờ ứng dụng AI, HDBank có thể tự động kiểm tra 100% tài khoản người dùng trên toàn hệ thống. Qua đó, giúp bộ phận kiểm toán rà soát đầy đủ hơn tình trạng tài khoản và quyền truy cập, hỗ trợ phát hiện những vấn đề cần xử lý.

Thế nhưng mức độ tự động hóa càng cao thì yêu cầu giám sát càng lớn. Hệ thống phải có cơ chế cho phép con người chủ động can thiệp, thậm chí dừng hoạt động khi xảy ra sự cố. Trách nhiệm giải trình không thể được chuyển cho AI. Dù công nghệ tham gia vào quá trình xử lý thông tin hay hỗ trợ ra quyết định, con người vẫn phải chịu trách nhiệm về kết quả và những vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng.

Quỳnh Anh

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/toi-pham-mang-de-hoa-an-ninh-tai-chinh-d48450.html