Tối ưu hóa khai thác dữ liệu: Rút ngắn thời gian, hiện đại hóa phương thức kiểm toán

Khai thác hiệu quả dữ liệu điện tử không chỉ giúp Kiểm toán nhà nước (KTNN) nâng cao chất lượng, giảm thời gian kiểm toán, mà còn là trụ cột then chốt để hiện đại hóa phương thức hoạt động, đảm bảo minh bạch và thích ứng linh hoạt với nền kinh tế số.

KTNN cần luật hóa quyền truy cập, chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu. Ảnh: TL

KTNN cần luật hóa quyền truy cập, chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu. Ảnh: TL

Thay đổi tư duy và phương pháp tiếp cận

Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế Các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI), bản chất của kiểm toán số không dừng lại ở việc số hóa thao tác thủ công, mà là sự thay đổi tư duy, chuyển từ chọn mẫu xác suất sang phân tích toàn bộ tổng thể dữ liệu, từ kiểm toán sau sang giám sát và cảnh báo rủi ro liên tục theo thời gian thực.

Tại Trung Quốc, Cơ quan kiểm toán (CNAO) đã triển khai từ sớm Dự án kiểm toán Vàng và thành lập Trung tâm Phân tích dữ liệu kiểm toán quốc gia (NADAC) để vận hành trên nền tảng đám mây chuyên dụng, tích hợp dữ liệu tài chính, thuế, ngân hàng, đầu tư công, đất đai và an sinh xã hội, xử lý hơn 50 tỷ bản ghi dữ liệu mỗi năm. CNAO đã đưa quy định thu thập dữ liệu điện tử vào Luật Kiểm toán, đồng thời chủ trì xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu kiểm toán quốc tế ISO 21378, giúp chuẩn hóa định dạng dữ liệu giao dịch tài chính - kế toán và giảm chi phí thu thập.

Cơ quan Kiểm toán Indonesia (BPK) cũng đã luật hóa quyền truy cập trực tiếp hệ thống dữ liệu của mọi đối tượng kiểm toán. Hằng tháng, các đơn vị phải cung cấp dữ liệu giao dịch định kỳ về BPK. Đặc biệt, BPK xây dựng hệ thống công nghệ thông tin kết nối 3 bên: Đơn vị được kiểm toán - BPK - Nghị viện, để theo dõi việc thực hiện kiến nghị kiểm toán, giúp tự động hóa khâu đôn đốc, giảm thiểu họp hành và nâng cao tính minh bạch.

Trong khi đó, Cơ quan Kiểm toán quốc gia Australia (ANAO) đã phát triển nền tảng AIE ứng dụng AI và học máy để phân tích dữ liệu tài chính công, kết nối với cơ sở dữ liệu của hơn 100 cơ quan chính phủ, hỗ trợ kiểm toán viên phát hiện rủi ro theo thời gian thực. ANAO cũng thiết lập khung quản trị dữ liệu kiểm toán để bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ Luật Quyền riêng tư.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, muốn tối ưu hóa khai thác dữ liệu số, cơ quan kiểm toán cần luật hóa quyền truy cập, chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu, xây dựng trung tâm phân tích dữ liệu tập trung và phát triển công cụ theo dõi kiến nghị kiểm toán.

Công nghệ là công cụ hỗ trợ nhưng phán đoán chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp vẫn là yếu tố quyết định. Mỗi kiểm toán viên cần chủ động làm chủ công nghệ, biến dữ liệu thành tri thức để nâng cao chất lượng, giảm thời gian kiểm toán và khẳng định vị thế của KTNN trong nền kinh tế số. 

ThS. Huỳnh Ngọc Quang - Kiểm toán trưởng KTNN khu vực VIII

Thách thức về cơ chế, dữ liệu, nhân lực

Thời gian qua, KTNN Việt Nam đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận như: Vận hành gần 40 phần mềm nghiệp vụ; triển khai Cổng trao đổi thông tin với các đơn vị; ký quy chế chia sẻ dữ liệu với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; thí điểm kiểm toán từ xa.

Tuy nhiên, theo ThS. Huỳnh Ngọc Quang - Kiểm toán trưởng KTNN khu vực VIII, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán vẫn đang đứng trước những khó khăn, thách thức:

Về hành lang pháp lý, dù Luật KTNN đã quy định quyền truy cập cơ sở dữ liệu quốc gia và dữ liệu điện tử của đơn vị được kiểm toán, nhưng văn bản quy định chi tiết thi hành chưa được ban hành, dẫn đến thiếu cơ chế ràng buộc cụ thể về quy trình và tần suất cung cấp dữ liệu.

Hạn chế về chuẩn hóa và chất lượng dữ liệu do chưa có bộ tiêu chuẩn chung về dữ liệu kiểm toán, dẫn đến dữ liệu thu thập còn phân tán, thiếu đồng bộ. Nhiều hồ sơ quan trọng (thiết kế, dự toán, nghiệm thu công trình) vẫn ở dạng PDF hoặc scan phi cấu trúc, khiến kiểm toán viên (KTV) tốn nhiều thời gian làm sạch và xử lý thủ công.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hạ tầng dữ liệu và khả năng kết nối, chia sẻ thông tin của KTNN vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện, nhất là trong việc hình thành Kho dữ liệu lớn tập trung và tăng cường kết nối thời gian thực thông qua API. Việc bảo đảm kịp thời nguồn kinh phí duy trì bản quyền phần mềm bảo mật, bảo trì thiết bị cũng cần được quan tâm hơn nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và tăng cường an toàn, an ninh mạng.

Nguồn nhân lực và tư duy kiểm toán cũng là một thách thức không nhỏ. KTV vẫn thiếu hụt kỹ năng phân tích dữ liệu lớn, AI và các phần mềm chuyên sâu, trong khi đội ngũ chuyên trách về công nghệ còn mỏng.

Cuối cùng, rào cản từ phía đơn vị được kiểm toán do một số đơn vị e ngại lộ dữ liệu, mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin và kết nối dữ liệu giữa các Bộ, ngành, địa phương còn chênh lệch lớn.

Từ thụ động sang chủ động ứng dụng công nghệ

Từ thực tiễn kiểm toán, ThS. Huỳnh Ngọc Quang cho rằng, trước tiên, KTNN cần hoàn thiện cơ chế pháp lý và chuẩn hóa dữ liệu theo 3 nhóm: Dữ liệu của cơ quan nhà nước, dữ liệu cung cấp cho cơ quan nhà nước và dữ liệu đặc thù theo yêu cầu của KTNN. Đồng thời, ban hành quy chế quản lý tài khoản kiểm toán công khai, đúng thẩm quyền.

“Muốn khai thác dữ liệu hiệu quả thì không thể chỉ đầu tư một công cụ riêng lẻ. Cần xác định kiểm toán cần dữ liệu gì, căn cứ pháp lý để tiếp cận là gì, dữ liệu có đủ tin cậy để phân tích hay không, ai được sử dụng và kết quả phân tích được kiểm chứng như thế nào” - ThS. Huỳnh Ngọc Quang nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, đổi mới phương thức kiểm toán thông qua việc chuyển hóa sang kiểm toán từ xa và phân tích dữ liệu tổng thể. Mỗi một khâu trong quy trình kiểm toán cần được tích hợp các công cụ AI, học máy, RPA, NLP và phân tích chuyên dùng (ACL, CaseWare IDEA, Power BI, Python/SQL) để tự động phát hiện rủi ro về hoàn thuế, chi sai dự toán, rủi ro nợ xấu và các giao dịch gian lận tài chính.

KTNN cần nhanh chóng phát triển nhân lực song hành cùng chuyển đổi tư duy kiểm toán số. KTV cần được đào tạo theo từng cấp độ với tỷ lệ thực hành trên 60%, bồi dưỡng đội ngũ kỹ sư phân tích dữ liệu và kiện toàn bộ phận công nghệ thông tin tại các KTNN chuyên ngành, khu vực.

Bám sát Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2030, KTNN cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng kiến trúc dữ liệu tổng thể và hoàn thiện thể chế, thiết lập kho dữ liệu tập trung và kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Bộ, ngành, địa phương. Trên nền tảng đó, trong giai đoạn 2026-2030, KTNN mở rộng hạ tầng dữ liệu lớn và hiện đại hóa chuyên sâu, triển khai diện rộng kiểm toán từ xa và kiểm toán liên tục; ứng dụng sâu mô hình AI trong đánh giá rủi ro tự động, phát hiện gian lận.

ThS. Huỳnh Ngọc Quang lưu ý, trong môi trường số, KTNN cần đặc biệt lưu ý giá trị pháp lý và tính toàn vẹn của bằng chứng kiểm toán điện tử thông qua chữ ký số, mã hóa và nhật ký kiểm toán. Tuân thủ nghiêm quy định bảo vệ bí mật nhà nước và an toàn thông tin mạng, nâng cao trách nhiệm cung cấp dữ liệu của đơn vị được kiểm toán. Đặc biệt, vai trò phán đoán chuyên môn của KTV vẫn phải được đề cao và là chủ thể quyết định chất lượng kiểm toán./.

THÙY LÊ

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/toi-uu-hoa-khai-thac-du-lieu-rut-ngan-thoi-gian-hien-dai-hoa-phuong-thuc-kiem-toan