Tôn giáo và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo: Nơi đức tin gặp gỡ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc - Bài 2: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm
Nếu những đóng góp xã hội cho thấy tôn giáo là một nguồn lực của cộng đồng, thì nền tảng để nguồn lực ấy phát huy bền vững chính là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm.
Ngay sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành các văn bản pháp luật khẳng định chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân như: Sắc lệnh số 35/SL, ngày 20/9/1945 của Chính phủ về việc tôn trọng và không được xâm phạm chùa, lăng tẩm của tôn giáo; Sắc lệnh số 22/SL, ngày 18/12/1946 của Chính phủ ấn định những ngày Tết, ngày kỷ niệm lịch sử và tôn giáo. Tại Điều thứ 10 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”… Từ đó đến nay, các bản Hiến pháp luôn thể hiện quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về công tác tín ngưỡng, tôn giáo, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo trên phạm vi cả nước.
Ra mắt Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”
Từ năm 2023, trong khuôn khổ chương trình Hội nghị cung cấp thông tin đối ngoại, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra mắt Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”. Sách dày 132 trang gồm 3 chương bao gồm: Chương I: Giới thiệu thông tin cơ bản về tôn giáo ở Việt Nam; Chương II: Chính sách tôn giáo ở Việt Nam; Chương III: Thành tựu, thách thức và ưu điểm của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Bên cạnh việc giới thiệu về 16 tôn giáo phổ biến ở Việt Nam, sách cũng cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định trong Hiến pháp; những quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; thành tựu, thách thức và ưu tiên của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo…
Tại lễ ra mắt, ông Nguyễn Tiến Trọng, Phó Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ (nay thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo) cho biết, Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời, có 54 dân tộc với nhiều tôn giáo khác nhau. Cả nước có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự; hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 4 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Theo đó, các hoạt động tôn giáo như đào tạo chức sắc, xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, quan hệ quốc tế…) của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra thuận lợi theo quy định của pháp luật đã và đang đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo quần chúng Nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội.
“Thực hiện chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo đều gia tăng. Nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra với quy mô lớn hơn trước đây và thu hút đông đảo tín đồ, người dân tham dự...”, ông Nguyễn Tiến Trọng nhấn mạnh.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận từ Hiến pháp đến luật chuyên ngành
Nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, ngay từ Hiến pháp đầu tiên, năm 1946 và các bản Hiến pháp sau này đều luôn khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các quyền cơ bản của con người. Trong đó, Hiến pháp 2013 hiến định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người. Thực hiện các nguyên tắc hiến định, Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển, dân chủ, công bằng và văn minh.

ĐBQH, Hòa thượng Thích Thanh Quyết phát biểu tại phiên thảo luận ở hội trường về Dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), tháng 4/2026. (Ảnh: MT/ĐBND)
Ngày 13/5/2026, tại buổi họp báo công bố lệnh của Chủ tịch nước về các luật đã được Quốc hội khóa 16 thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, giới thiệu về Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hải Trung cho biết, Luật được ban hành nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Luật mới cũng giải quyết những bất cập, hạn chế trong thực tiễn tổ chức thi hành của luật ban hành năm 2016; phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế... để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người.
Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với đời sống thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/11/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Có thể thấy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết là một quyền của con người. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 xác lập nguyên tắc: mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền này. Hiến pháp đồng thời khẳng định không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Tinh thần đó được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14, cùng các văn bản sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn thi hành.
Một vấn đề nữa cho thấy phạm vi bảo đảm quyền được nhìn khá rộng là pháp luật còn quy định việc sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo đối với người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù hoặc một số biện pháp xử lý hành chính, trên cơ sở quy định cụ thể của pháp luật (khoản 5 Điều 6 trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016). Đây là cách tiếp cận coi quyền về niềm tin là quyền gắn với con người, không tự động mất đi chỉ vì một cá nhân đang ở trong hoàn cảnh pháp lý đặc biệt.
Đặc biệt, cùng với bảo đảm quyền, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng xác định những hành vi bị nghiêm cấm. Theo đó, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo không được xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; không được xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người khác; không được cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; không được gây chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo hoặc chia rẽ giữa người theo và không theo tín ngưỡng, tôn giáo. Pháp luật cũng nghiêm cấm lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi.
Đặt nền tảng pháp lý mới trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
Thực tiễn quá trình thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cho thấy việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm thể chế hóa sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng về tín ngưỡng tôn giáo phù hợp với Hiến pháp, các công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là rất cần thiết. Việc sửa đổi luật còn bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện hành; bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; củng cố bền chặt khối đại đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc.

Ngày 9/3/2023, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra mắt Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”. (Nguồn ảnh: Bộ Dân tộc và Tôn giáo)
Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2027). Kế thừa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016, Luật tiếp tục giữ tinh thần cốt lõi về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: mọi người có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo; có quyền bày tỏ niềm tin, thực hành lễ nghi, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đồng thời làm rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước: tôn trọng và bảo hộ quyền của mọi người, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, bảo vệ giá trị văn hóa và đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, khuyến khích và tạo điều kiện phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
“Đối với người có tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn. Một người dân Việt Nam có thể vừa là một người dân yêu nước, đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính. Tôn giáo với dân tộc bao giờ cũng được Hồ Chí Minh xem xét và giải quyết trên tinh thần của khối đại đoàn kết toàn dân. Tôn giáo chỉ có thể khẳng định được mình khi sống giữa lòng dân tộc và dân tộc trên con đường phát triển phải biết khai thác, chắt lọc những giá trị tích cực của các tôn giáo”. (Trích bài viết “Hồ Chí Minh về công tác vận động đồng bào có đạo tham gia cách mạng” của PGS. TS Nguyễn Đức Lữ - Trung tâm Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo)

