Tôn vinh tập thể nhà khoa học nữ đưa công nghệ sinh học nâng tầm nông sản Việt
Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 đã vinh danh tập thể các nhà khoa học nữ thuộc Khoa Kỹ thuật Thực phẩm, Trường Hóa và Khoa học sự sống (Đại học Bách khoa Hà Nội) với cụm công trình 'Ứng dụng xúc tác sinh học nâng cao giá trị nông sản Việt'. Từ các nghiên cứu về enzyme và vi sinh vật, nhóm đã phát triển nhiều công nghệ chế biến thực phẩm hiện đại, đưa hàng chục sản phẩm từ nguyên liệu nông sản Việt Nam ra thị trường trong và ngoài nước, đồng thời mở ra hướng đi bền vững cho ngành chế biến thực phẩm theo mô hình kinh tế tuần hoàn.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho tập thể các nhà khoa học nữ Đại học Bách khoa Hà Nội với cụm công trình "Ứng dụng xúc tác sinh học nâng cao giá trị nông sản Việt". Ảnh: Nhật Bắc
Đưa công nghệ sinh học vào chế biến nông sản
Tập thể nghiên cứu gồm 9 nhà khoa học nữ: PGS.TS.Vũ Thu Trang, PGS.TS. Hồ Phú Hà, PGS.TS. Lương Hồng Nga, PGS.TS. Phan Thanh Tâm, PGS.TS. Nguyễn Thị Hạnh, TS. Đỗ Thị Yến, TS. Nguyễn Hải Vân, ThS. Bùi Uyển Diễm và ThS. Nguyễn Thị Hoài Đức. Trong nhiều năm qua, nhóm đã hình thành một hướng nghiên cứu xuyên suốt: Ứng dụng xúc tác sinh học để cải thiện đặc tính nguyên liệu, nâng cao giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, đồng thời tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tạo ra các sản phẩm mới có giá trị kinh tế.
Theo các nhà khoa học, Việt Nam có nguồn nông sản phong phú nhưng chế biến sâu vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tổn thất sau thu hoạch còn cao và giá trị gia tăng của nhiều sản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng. Chính từ thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn công nghệ sinh học, đặc biệt là enzyme và vi sinh vật, làm công cụ then chốt để “đánh thức” tiềm năng của nguyên liệu bản địa.
Bằng việc làm chủ kỹ thuật biến đổi sinh học tinh bột và protein, các nhà khoa học đã chuyển hóa những nguyên liệu quen thuộc như gạo, ngô thành nền tảng cho các dòng thực phẩm mới. Những sản phẩm này không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao hơn mà còn hướng tới xu hướng tiêu dùng hiện đại, chẳng hạn thực phẩm tiêu hóa chậm, ít năng lượng hoặc tốt cho sức khỏe.
Kết quả nghiên cứu của nhóm được thể hiện qua số lượng công bố khoa học đáng kể. Trong nhiều năm, nhóm đã công bố hàng trăm bài báo khoa học, trong đó hơn 70 công bố thuộc cụm công trình được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025. Bên cạnh đó, các nhà khoa học còn phát triển 6 bằng sáng chế và giải pháp hữu ích, tạo nền tảng quan trọng cho việc ứng dụng công nghệ vào thực tiễn sản xuất.

Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu học thuật, nhóm còn tham gia và chủ trì 32 đề tài, dự án hợp tác quốc tế và cấp Nhà nước, Bộ, ngành, trong đó có 21 đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ. Thông qua các chương trình nghiên cứu này, nhiều giải pháp công nghệ đã được hoàn thiện và sẵn sàng chuyển giao cho doanh nghiệp.
Một trong những điểm nổi bật của cụm công trình là hướng nghiên cứu gắn với xu thế phát triển bền vững. Thay vì chỉ tập trung vào chế biến nguyên liệu chính, nhóm đã chú trọng tận dụng phụ phẩm trong quá trình sản xuất thực phẩm để tạo ra các sản phẩm mới. Cách tiếp cận này không chỉ giúp giảm lãng phí tài nguyên mà còn góp phần hình thành mô hình sản xuất không phế thải, phù hợp với định hướng kinh tế tuần hoàn.
PGS.TS. Vũ Thu Trang, Phó Trưởng khoa Kỹ thuật Thực phẩm (Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội), đại diện nhóm nghiên cứu, chia sẻ: “Mục tiêu của các công trình khoa học không chỉ dừng lại ở các công bố học thuật mà còn hướng tới ứng dụng trong thực tiễn. Đối với chúng tôi, đây là niềm vui và niềm hạnh phúc lớn khi những nỗ lực đưa các giải pháp công nghệ nhằm nâng cao giá trị nông sản Việt Nam, lan tỏa hương vị Việt ra thế giới, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn được ghi nhận”.

Tập thể các nhà khoa học nữ thuộc Khoa Kỹ thuật Thực phẩm, Trường Hóa và Khoa học sự sống (Đại học Bách khoa Hà Nội) nhận Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025. Ảnh: PV
Kiến tạo hệ sinh thái sản phẩm từ nông sản Việt
Từ nền tảng nghiên cứu về xúc tác sinh học, tập thể các nhà khoa học nữ đã phát triển nhiều công nghệ chế biến thực phẩm mới, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng từ nguyên liệu nông sản Việt Nam. Đáng chú ý, 40 sản phẩm đã được thương mại hóa, trong đó nhiều sản phẩm đã có mặt tại các thị trường khó tính như châu Âu và Nhật Bản.
Một trong những thành tựu tiêu biểu là công nghệ sản xuất sữa gạo giàu protein Ojita. Dây chuyền sản xuất có công suất 40 tấn/ngày, tương đương 66 triệu hộp/năm, và sản phẩm đã được xuất khẩu sang Nhật Bản. Công nghệ này không chỉ giúp gia tăng giá trị cho hạt gạo Việt Nam mà còn mở ra hướng phát triển mới cho ngành đồ uống thực vật.
Bên cạnh đó, nhóm còn phát triển nhiều công nghệ chế biến thực phẩm khác như sữa ngô - sữa gạo nguyên hạt không phát sinh bã thải, tinh bột chậm tiêu hóa, phở tươi ăn liền năng lượng thấp, phô mai tươi lợi khuẩn từ hạt, các sản phẩm từ nấm thay thế thịt. Những sản phẩm này hướng tới xu hướng tiêu dùng thực phẩm lành mạnh, đáp ứng nhu cầu của người mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa như tiểu đường, tim mạch hoặc cao huyết áp.
Ở lĩnh vực công nghệ lên men, nhóm đã làm chủ các giải pháp kiểm soát vi sinh và công nghệ lên men hiện đại phục vụ sản xuất công nghiệp quy mô lớn. Một ví dụ tiêu biểu là sản phẩm xúc xích lên men. Đây vốn là dòng thực phẩm phổ biến tại châu Âu nhưng trước đây chủ yếu được nhập khẩu vào Việt Nam do quy trình sản xuất phức tạp. Nhóm nghiên cứu đã phân lập và tuyển chọn được các chủng vi sinh vật có khả năng lên men tốt, tạo hương vị đặc trưng và đặc biệt có khả năng kháng lại các vi sinh vật gây hại. Nhờ đó, sản phẩm xúc xích lên men lần đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam và đã được chuyển giao thành công cho doanh nghiệp trong nước.

Các nhà khoa học nữ bên sản phẩm của mình. Ảnh: PV
Không chỉ tập trung vào sản phẩm thực phẩm, các nhà khoa học còn triển khai nhiều nghiên cứu theo hướng kinh tế tuần hoàn. Phụ phẩm từ nông nghiệp và thủy sản được tận dụng để sản xuất surimi, chitin, nước mắm, bột tôm, chế phẩm kháng vi sinh vật và chế phẩm giàu canxi từ vỏ trứng. Quy mô xử lý phụ phẩm có thể đạt tới hàng trăm tấn nguyên liệu mỗi ngày, góp phần giảm thiểu chất thải và nâng cao giá trị kinh tế của chuỗi sản xuất thực phẩm.
Quá trình đưa khoa học vào thực tiễn cũng đặt ra nhiều thách thức. Theo PGS. TS. Vũ Thu Trang, khi chuyển giao công nghệ từ phòng thí nghiệm sang sản xuất công nghiệp, rào cản lớn nhất là nguồn nguyên liệu trong nước thường thiếu tính đồng đều. Điều này buộc các nhà khoa học phải liên tục điều chỉnh các thông số công nghệ và tối ưu quy trình để đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định.
Tuy vậy, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên trong nhóm và sự đồng hành của doanh nghiệp, nhiều dự án chuyển giao công nghệ đã thành công. Tại Thanh Hóa, nhóm đã tham gia thiết kế dây chuyền, lựa chọn thiết bị và chuyển giao công nghệ lõi cho một nhà máy sản xuất sữa gạo tự động hóa hoàn toàn. Dự án không chỉ tạo ra sản phẩm thương mại mà còn góp phần mở rộng vùng nguyên liệu lúa, tạo việc làm cho hàng chục lao động và sinh kế cho hàng trăm nông dân.

Các nhà khoa học nữ trong phòng thí nghiệm. Ảnh: PV
Bên cạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, các nhà khoa học trong nhóm còn đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực. Hàng nghìn kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ trong lĩnh vực công nghệ thực phẩm đã được đào tạo từ chính các chương trình nghiên cứu và giảng dạy của họ. Đây được xem là “cánh đồng nhân lực” góp phần lan tỏa tri thức khoa học vào sản xuất và đời sống.
Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 vì thế không chỉ ghi nhận thành tựu khoa học của tập thể các nhà khoa học nữ Trường Hóa và Khoa học sự sống (Đại học Bách khoa Hà Nội), mà còn khẳng định vai trò của khoa học công nghệ trong nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản Việt Nam. Đồng thời, giải thưởng cũng tiếp thêm động lực để các nhà khoa học tiếp tục đổi mới sáng tạo, đưa nhiều thành tựu nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.












