Tòng lâm thạch trụ

Hơn nửa thế kỷ trước, vào khoảng thập niên 1950, tổ đình Hương Tích vô cùng hưng thịnh, Tăng Ni, Phật tử, các danh nho phát tâm về tham kinh vấn đạo rất đông. Không chỉ tại Phú Yên, các tỉnh Nam Trung Bộ và Cao Nguyên, nhiều người vì ngưỡng mộ vị Tổ khai sơn và uy tín của tổ đình Hương Tích mà phát tâm phụng sự.

Mái ấm chùa xưa

Đến Phú Yên, ngược về hướng Tây Nam cách Tuy Hòa độ 25 cây số, chúng ta sẽ thấy một ngôi chùa uy nghiêm đồ sộ, nội điện ngoại thất đều trang nghiêm. Đó là tổ đình Hương Tích, ngôi già-lam có bề dày lịch sử trên trăm năm.

Được Tổ Trừng Thành Vạn Ân khai sơn vào thập niên 1930, ban đầu chùa chỉ bằng tre tranh khiêm tốn, tọa lạc trên một mảnh đất khô khan nắng cháy. Trải qua bao đổi thay hưng phế theo thời gian, chùa đã nhiều lần trùng tu tái thiết nhỏ, mãi tới năm 2016 Thượng tọa Thích Nguyên Nhã mới phát tâm đại trùng tu, tạo nên một ngôi phạm vũ vô cùng trang nghiêm kiên cố.

Chân dung Tổ sư Trừng Thành Vạn Ân

Chân dung Tổ sư Trừng Thành Vạn Ân

Hơn nửa thế kỷ trước, vào khoảng thập niên 1950, tổ đình Hương Tích vô cùng hưng thịnh, Tăng Ni, Phật tử và các danh nho phát tâm về tham kinh vấn đạo rất đông. Không chỉ tại Phú Yên, các tỉnh Nam Trung Bộ và Cao Nguyên, nhiều người vì ngưỡng mộ vị Tổ khai sơn và uy tín của tổ đình Hương Tích mà phát tâm phụng sự.

Kể từ khi thành lập cho đến nay, tổ đình Hương Tích trải qua 4 đời trụ trì:

Tổ Trừng Thành – Vạn Ân

Hòa thượng Thích Diệu Bổn

Hòa thượng Thích Diệu Quang

Thượng tọa Thích Nguyên Nhã.

Do bị ảnh hưởng của chiến tranh, có thời gian tổ đình bị tàn phá, hoang phế, trong 15 năm từ 1960 đến 1975 chùa vắng bóng chư Tăng hành đạo, không có trụ trì nên dân làng tự giác thay phiên nhau mà giữ gìn ngôi Tam bảo.

Tổ Trừng Thành – Vạn Ân là một bậc cao tăng thạc đức, phạm hạnh sáng ngời, có ảnh hưởng lớn với Phật giáo Phú Yên, ngoài việc tiếp Tăng độ chúng, Tổ khai sơn còn có công đức khắc ván in kinh, truyền lại cho ngày nay những di sản giá trị. Ngày nay lớp hậu duệ đã trưởng thành nhờ ân đức Tổ xưa đã gây dựng mà nỗ lực đóng góp cho Đạo pháp.

Bước chân vô úy

Trong các sự nghiệp của một đời người, chỉ có sự nghiệp xuất thế là vĩ đại nhất. Đạo nghiệp của Tổ Trừng Thành – Vạn Ân có thể khẳng định là rất cao cả, vô cùng sáng ngời. Đạo nghiệp này là kết tinh nhiều yếu tố: túc duyên – chí nguyện – hạnh nguyện.

Tổ Vạn Ân sinh năm Bính Tuất (1886), trong dòng dõi Nho gia thâm tín Tam bảo tại thôn Vạn Lộc, Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, nên ngay từ nhỏ Tổ Vạn Ân đã phát tâm nhập dòng pháp tịnh.

Năm 12 tuổi (1898), Tổ xuất gia với ngài Nguyên Đạt tại tổ đình Long Tường (Hòa Mỹ). Năm 21 tuổi (1907), ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới tại tổ đình Long Sơn Bát Nhã (Tuy An).

Năm Nhâm Tý (1912), khi mới 26 tuổi, ngài được cung thỉnh làm Yết-ma tại giới đàn Mông Sơn Phan Rang. Năm Canh Thân (1920), ngài khai Đại giới đàn tại tổ đình Khánh Long, đăng lâm bảo vị Đàn đầu Hòa thượng, thí giới cho đại chúng.

Từ năm 1927 đến 1930 được mời làm giảng sư, giáo thọ tại các Phật học đường ở tỉnh Bạc Liêu và Châu Đốc, cộng tác Phật sự với Tổ Khánh Anh, Tổ Khánh Hòa, Tổ Chí Thiền. Sau đó Tổ còn được mời làm giám luật, giáo thọ dạy luật tại các Phật học đường ở Ninh Thuận, Bình Thuận.

Năm Ất Hợi (1935), ngài khai Trường Hương tại Tổ đình Long Sơn Bát Nhã (Tuy An) và làm Thiền chủ. Năm Đinh Dậu (1957), ngài làm Yết-ma Đại giới đàn Hộ Quốc tại Phật học viện Hải Đức (Nha Trang).

Năm 1964, do chiến tranh, Tổ cùng chư Tăng phải rời tổ đình Hương Tích về tạm trú tại tổ đình Bảo Tịnh (Tuy Hòa). Tại đây Tổ được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư cho Tỉnh hội Phật giáo Phú Yên, và trú trì tổ đình Bảo Tịnh cho tới ngày viên tịch.

Nửa khuya mùng 8 tháng 2 Đinh Mùi (1967), Tổ xả báo thân tại tổ đình Bảo Tịnh, hưởng thọ 82 tuổi đời, 61 tuổi đạo.

Hành trì và tế độ

Là một cao tăng phạm hạnh, với pháp môn Tịnh Mật song tu, công năng hành trì của Tổ rốt ráo. Ngoài các thời khóa hành trì, hàng ngày Tổ dành nhiều thời gian vào việc giảng dạy kinh luật cho hàng đệ tử xuất gia, và tùy duyên dạy dỗ hướng dẫn Phật tử tu tập hành thiện.

Đệ tử xuất gia của Tổ có trên 50 vị, tại gia có tới hàng ngàn người. Những đệ tử xuất gia tiêu biểu như: Hòa thượng Thích Diệu Quang, Hòa thượng Thích Diệu Tâm, Hòa thượng Thích Diệu Bổn, Hòa thượng Thích Viên Trí, Hòa thượng Thích Viên Khánh, Hòa thượng Thích Tâm Căn, Hòa thượng Thích Tâm Trí... về đệ tử Ni có Ni trưởng Tâm Thị (Thiện Hạnh), Ni trưởng Tâm Khiết (Tâm Hộ).

Về mặt xây dựng tái thiết, Tổ đã để lại trên 50 ngôi chùa trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh, như tổ đình Khánh Long, tổ đình Hương Tích; các chùa: Phi Lai, Ân Quang, Cảnh Thái, Đông Quang, Hương Lâm, Bửu Tích, Diên Thọ, Mỹ Quang, Hòa Sơn, Thượng Tiên Thọ Vân, Long Tường, Dược Sư, Hồng Ân.

Về mặt xã hội, Tổ Vạn Ân đã làm nhiều việc được nhân dân ghi nhớ: Năm 1924, sau trận bão lụt dữ dội, người chết, nhà tan, gây ra nhiều đau thương mất mát tại Hòa Hiệp, Tổ đã phát tâm lập trai đàn cầu siêu nạn nhân suốt 7 ngày đêm, đem lại niềm tin, sự an ủi rất lớn về mặt tinh thần. Ngoài ra, Tổ đã phát tâm tự tay lát đá tại đèo Xương Cá (Hòa Kiến), tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho nhân dân địa phương được nhiều ngưỡng mộ biết ơn.

Hoa Đàm ngát hương

Đã 70 mùa xuân qua từ ngày Tổ quảy dép về Tây, an trú Niết-bàn tịnh xứ, môn đồ vẫn luôn luôn hoài niệm thâm ân.

Cuộc đời độ sanh của ngài thật bao la vĩ đại, làm cho hàng hậu duệ ân triêm như làn hương tỏa ra từ một bông hoa tinh khiết viên dung.

Thích Thiện Đạo/Báo Giác Ngộ

Nguồn Giác ngộ: https://giacngo.vn/tong-lam-thach-tru-post79128.html