TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao'

Cục thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức Tọa đàm "Nghị quyết 10: Phát triển hệ sinh thái FDI chất lượng cao", tập trung giải đáp bốn câu hỏi lớn: Vì sao Việt Nam phải thay đổi tư duy về FDI? Việt Nam đang lựa chọn mô hình FDI nào? FDI phải tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế Việt Nam? Điều gì quyết định thành công của Nghị quyết 10?

Các khách mời tham dự Tọa đàm (từ trái sang): Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam; bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính; ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên; TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Các khách mời tham dự Tọa đàm (từ trái sang): Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam; bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính; ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên; TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Có những thời điểm, một nghị quyết không chỉ tạo ra những chính sách mới mà còn mở ra một cách nhìn mới về con đường phát triển của đất nước. Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị là một nghị quyết như vậy.

Trong gần bốn mươi năm đổi mới, Việt Nam đã thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài. Khu vực FDI trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Nhưng khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi.

Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng.

Đó cũng là tinh thần xuyên suốt trong các chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và cũng là chủ đề của cuộc tọa đàm do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức chiều 7/8.

Tọa đàm tập trung giải đáp bốn câu hỏi lớn: Vì sao Việt Nam phải thay đổi tư duy về FDI? Việt Nam đang lựa chọn mô hình FDI nào? FDI phải tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế Việt Nam? Điều gì quyết định thành công của Nghị quyết 10?

Đó cũng chính là logic phát triển được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh: Thay đổi tư duy để thay đổi mô hình phát triển, và thay đổi mô hình phát triển để nâng cao năng lực quốc gia.

Các vị khách mời tham dự Tọa đàm gồm:

- Ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên;

- Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội;

- Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính; 

- Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam.

- TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điều phối chương trình.

NHÓM VẤN ĐỀ 1: VÌ SAO VIỆT NAM PHẢI THAY ĐỔI TƯ DUY VỀ FDI?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện tư duy rất mới trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Mọi cuộc cải cách đều bắt đầu từ một sự thay đổi trong cách nhìn nhận vấn đề. Vậy, điều gì đã thay đổi trong bối cảnh phát triển của Việt Nam và của thế giới để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 vào thời điểm này? Vì sao chúng ta phải chuyển từ tư duy "thu hút FDI" sang tư duy "kiến tạo hệ sinh thái FDI chất lượng cao"? Trong phần đầu của chương trình tọa đàm hôm nay, chúng ta sẽ tập trung làm rõ những câu hỏi cốt lõi này.

Trước hết, xin được gửi câu hỏi đến bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính - cơ quan chủ trì chắp bút trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, được đánh giá là bước ngoặt mở ra tư duy mới cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Dưới góc độ quản lý của Bộ Tài chính, theo bà đâu là những điểm mới cốt lõi và mang tính đột phá nhất của Nghị quyết này?

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính: Trong hơn 40 năm qua, FDI đã mang lại nhiều tác động rất tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, thực tiễn vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, đặc biệt là những vấn đề mới đặt ra trong bối cảnh và giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế.

Hơn 40 năm qua, chính sách thu hút FDI là một chiến lược hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã giúp huy động được nguồn lực rất lớn cho quá trình phát triển đất nước. Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động này vẫn còn những hạn chế, nhất là tính lan tỏa đối với khu vực kinh tế trong nước. Bước sang giai đoạn mới, khi cạnh tranh chiến lược đang rất áp lực, cùng với sự bứt phá mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước là phải có bước đổi mới căn bản trong mô hình phát triển.

Trong bối cảnh đó, việc phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc thu hút được nhiều hơn về quy mô vốn như giai đoạn trước, mà phải hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, đặc biệt là kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực nước ngoài với nguồn lực trong nước nhằm gia tăng nội lực của nền kinh tế.

Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ góc độ của Bộ Tài chính – cơ quan chủ trì chắp bút xây dựng đề án để báo cáo Đảng ủy Chính phủ trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết này, chúng tôi đánh giá Nghị quyết số 10-NQ/TW có 6 chuyển đổi lớn về tư duy phát triển:

Thứ nhất, chuyển đổi từ tư duy "thu hút đầu tư nước ngoài" sang tư duy "phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài". Nghị quyết đã tiếp cận một cách toàn diện và bao quát hơn, bao gồm cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, các thiết chế tài chính quốc tế, đồng thời coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hợp thành hữu cơ của nền kinh tế quốc dân.

Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô, số lượng vốn sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Nếu như trong giai đoạn đầu, kết quả thu hút đầu tư nước ngoài chủ yếu được đánh giá thông qua số lượng dự án và tổng số vốn thu hút, thì trong bối cảnh mới, thu hút vốn vẫn cần thiết nhưng không còn là yếu tố duy nhất. Quan trọng hơn là dòng vốn đầu tư khi vào trong nước tạo ra tác động lan tỏa như thế nào đối với khu vực kinh tế nội địa, mang lại kết quả gì cho doanh nghiệp trong nước và đóng góp ra sao cho tổng thể nền kinh tế. Đây là yêu cầu có ý nghĩa ngày càng quyết định đối với nền kinh tế.

Thứ ba, thay đổi căn bản về cơ chế và tư duy ưu đãi đầu tư của Nhà nước. Trước đây, chính sách ưu đãi chủ yếu tập trung theo cách thức truyền thống, như ưu đãi theo ngành, lĩnh vực ưu tiên hoặc theo địa bàn khó khăn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các chính sách ưu đãi truyền thống đó không còn đủ sức hấp dẫn để thu hút các dòng vốn chất lượng cao, FDI thế hệ mới. Theo định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW, chính sách ưu đãi trong thời gian tới phải gắn liền với kết quả đầu ra. Ưu đãi phải dựa trên đóng góp thực tế của dòng vốn đối với nền kinh tế, như mức độ lan tỏa, công nghệ hiện đại, khả năng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; tránh tình trạng dòng vốn vào nhưng vận hành biệt lập, tạo thành hiện tượng "2 nền kinh tế trong một nền kinh tế".

Thứ tư, chuyển từ việc thu hút các dự án FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái gắn kết với các dòng vốn quốc tế. Dòng vốn FDI hiện nay không vận hành độc lập mà phải kết nối đồng bộ với các dòng vốn gián tiếp và các nguồn vốn quốc tế khác thông qua các mô hình phát triển mới như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do hay các khu kinh tế đặc biệt. Điều này không chỉ giúp thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn mà còn giúp phân bổ lại nguồn lực, tối ưu hóa sự phát triển của nền kinh tế.

Thứ năm, chuyển từ tư duy "quản lý đầu tư" sang "kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh". Trong những năm trước, quản lý dòng vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm không vi phạm pháp luật, tuân thủ đúng các quy định hiện hành, bảo đảm an ninh, an toàn và môi trường. Trong giai đoạn mới, bên cạnh việc quản lý tuân thủ pháp luật, cơ quan quản lý phải kiến tạo môi trường thuận lợi để dòng vốn ngoại kết hợp hiệu quả với dòng vốn nội, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn. Muốn vậy, chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng các yếu tố nền tảng như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường kinh doanh, năng lực quản trị và thể chế. Chỉ khi chuẩn bị đầy đủ các yếu tố này, dòng vốn chất lượng cao mới có thể phát huy tối đa hiệu quả.

Thứ sáu, khắc phục triệt để tình trạng "cạnh tranh xuống đáy" giữa các địa phương trong thu hút đầu tư và bảo đảm công tác điều phối phát triển các dòng vốn ở tầm quốc gia. Yêu cầu đặt ra là phải phân bổ và điều phối hài hòa dòng vốn vào đúng những khu vực, ngành nghề thực sự có nhu cầu, bảo đảm sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng, miền trong bối cảnh mới.

Tóm lại, thông điệp cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW là sự chuyển đổi về mục tiêu: không chỉ dừng lại ở việc huy động nguồn vốn đong đếm bằng số lượng dự án, mà quan trọng là huy động và kết nối nguồn lực quốc tế với nội lực nền kinh tế, nhằm kiến tạo năng lực phát triển mới cho kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Đó chính là thông điệp trọng tâm mà Nghị quyết số 10-NQ/TW muốn gửi tới các nhà đầu tư.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Như vậy, điều thay đổi đầu tiên không phải là chính sách ưu đãi, mà là tư duy phát triển. Từ góc độ hoạch định chính sách, ông Phan Đức Hiếu đánh giá như thế nào về sự chuyển dịch tư duy này? Theo ông, Nghị quyết 10 đóng vai trò như thế nào trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045?

Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Phan Đức Hiếu, Uỷ viên thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội: Câu hỏi này có thể nói là cùng một nội dung nhưng được tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau. Với tư cách là một Đại biểu Quốc hội đồng thời là một nhà nghiên cứu, tôi có góc nhìn về những yếu tố mang tính bản chất, những nội dung không hoàn toàn thể hiện bằng chữ viết cấu thành nên nghị quyết này.

Đầu tiên, chúng ta cần nhìn lại quá trình phát triển. Năm 2019, chúng ta có Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Theo tôi, đó là một bước ngoặt quan trọng trong việc thay đổi tư duy về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong đó, Nghị quyết đã bắt đầu nhấn mạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài có chất lượng cao và thúc đẩy sự hợp tác giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực đầu tư trong nước.

Quay trở lại thời điểm hiện tại, 6-7 năm sau, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. So sánh Nghị quyết số 10-NQ/TW với lần thay đổi tư duy gần đây nhất của chúng ta, có thể thấy nghị quyết này mang những điểm thực sự đột phá và thay đổi sâu sắc. Trước hết, tôi hoàn toàn nhất trí với 6 điểm thay đổi cơ bản như chị Thủy đã liệt kê. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một số khía cạnh quan trọng.

Thứ nhất, Nghị quyết số 10-NQ/TW kế thừa rất nhiều mục tiêu và giải pháp đã được đề ra trong Nghị quyết số 50-NQ/TW, đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới rất quan trọng. Điều quan trọng nhất theo tôi chính là sự thay đổi hoàn toàn về cách tiếp cận. Tư duy cốt lõi ở đây nằm ở phương pháp tiếp cận, và 6 điểm thay đổi khác biệt như chị Thủy đã liệt kê có thể được tôi khái quát hóa lại thành 4 đặc trưng: Một là, chúng ta tiếp cận một cách bài bản và hệ thống hơn. Hai là, tư duy của chúng ta trở nên sâu sắc và thực tế hơn. Tôi xin phân tích kỹ hơn về 4 đặc tính này nhằm khái quát trọn vẹn 6 điểm khác biệt mà chị Thủy đã đề cập.

Tại sao lại khẳng định cách tiếp cận lần này là bài bản và hệ thống?

Tôi xin nhấn mạnh lại rằng lần này chúng ta xác định rất rõ ràng việc thu hút cả dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII). Đó là một cách tiếp cận rất hệ thống. Điểm thứ hai thể hiện tính bài bản và hệ thống là: Mấu chốt của chúng ta lần này trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là xây dựng một hệ sinh thái thuận lợi cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Tức là chúng ta nhìn nhận toàn bộ vòng đời hoạt động của dự án đầu tư nước ngoài, từ giai đoạn xúc tiến, thu hút đầu tư ban đầu cho đến suốt quá trình vận hành, hoạt động sau này, tất cả phải dựa trên một hệ sinh thái đồng bộ. Như vậy, chúng ta thể hiện tính bài bản.

Chúng ta phát triển một hệ sinh thái toàn diện, bao gồm cả môi trường sống, môi trường công tác, nguồn nhân lực, hạ tầng cứng và hạ tầng mềm. Chúng ta không chỉ chú trọng ở khâu gia nhập thị trường mà chú trọng đến toàn bộ vòng đời của hoạt động đầu tư nước ngoài.

Trước đây, tính bài bản và hệ thống này có sự khác biệt rất lớn. Như chị Thủy đã nêu, trước đây chúng ta chủ yếu thu hút đầu tư thông qua các biện pháp chính sách ưu đãi ở khâu gia nhập thị trường và công cụ chủ yếu là chính sách ưu đãi đơn thuần. Hiện nay, cách tiếp cận của chúng ta đã trở nên rất bài bản và hệ thống. Đó là đặc điểm thứ nhất.

Đặc điểm thứ hai tôi muốn phân tích là tại sao tư duy của chúng ta lại sâu sắc và thực tế hơn? Lý do là vì chúng ta không thể thu hút đầu tư mãi mãi chỉ bằng một công cụ duy nhất là ưu đãi. Muốn nâng cao chất lượng của dòng vốn FDI thì mấu chốt quan trọng nhất là chúng ta phải nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế. Dòng vốn FDI tốt sẽ không tự động lan tỏa nếu như chúng ta thiếu đi năng lực hấp thụ.

Lần này, tư duy của Đảng thể hiện rất sâu sắc và thực tế. Điều này thể hiện qua việc nhận thức rõ dòng vốn FDI không tự nhiên lan tỏa được, hoặc sự lan tỏa sẽ rất hạn chế nếu chúng ta không có khả năng hấp thụ. Cho nên, lần này chúng ta tiếp cận bằng một loạt giải pháp nhằm nâng cao năng lực hấp thụ của nước chủ nhà, đặc biệt là nâng cao chất lượng của khu vực doanh nghiệp trong nước và hoàn thiện hạ tầng cho phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó gia tăng độ sẵn sàng trong việc hợp tác với khu vực đầu tư nước ngoài.

Tại sao chúng ta lại sâu sắc? Là vì nếu chúng ta nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp trong nước, đặt trong bối cảnh thu hút FDI sẽ rất phù hợp vì làm tăng sự sẵn sàng và khả năng hấp thụ. Nhưng ngay cả khi đặt ra ngoài bối cảnh FDI, việc này cũng vô hình trung giúp chúng ta nâng cao năng lực tự chủ, tinh thần tự lực, tự cường trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây rõ ràng là một tư duy rất sâu sắc.

Trong mọi hoàn cảnh, đây có thể gọi là giải pháp "một mũi tên trúng nhiều mục tiêu". Vì vậy, điểm đầu tiên tôi muốn khái quát hóa là tư duy lần này của chúng ta rất bài bản, hệ thống, sâu sắc và thực tiễn.

Về vấn đề Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ đóng góp như thế nào vào chiến lược phát triển của đất nước? Điều này được thể hiện qua hai biểu hiện rất rõ ràng:

Thứ nhất, chủ trương xuyên suốt của chúng ta là phát huy tối đa mọi nguồn lực và mọi thành phần kinh tế đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Nếu chúng ta gia tăng chất lượng của hoạt động đầu tư nước ngoài thì rõ ràng chúng ta sẽ phát huy tốt hơn nguồn lực quan trọng này.

Thứ hai, nếu chúng ta hoàn thành các mục tiêu do Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra thì không chỉ thu hút được dòng vốn FDI có chất lượng mà chúng ta còn hấp thụ được năng lực từ khu vực đầu tư nước ngoài, qua đó nâng cao và thúc đẩy năng lực nội tại của nền kinh tế.

Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Năng lực nội tại của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp trong nước chính là nền tảng cốt lõi cho mục tiêu xây dựng và phát triển mô hình kinh tế mới theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW mà chúng ta đã đặt ra. Đó là mô hình kinh tế có hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Hãy hình dung rằng, việc nâng cao chất lượng của bản thân dòng vốn FDI, tạo tác động lan tỏa, tăng cường sự hợp tác cũng như thúc đẩy gia tăng nội lực của nền kinh tế sẽ đóng góp trực tiếp và thiết thực vào chiến lược phát triển chung của nền kinh tế đất nước.

Như vậy, tôi nhận thấy Nghị quyết số 10-NQ/TW lần này đã thay đổi hoàn toàn về cách tiếp cận và tư duy phát triển. Dù kế thừa nhiều mục tiêu, quan điểm và giải pháp từ trước, nhưng nghị quyết này đã tạo ra sự thay đổi lớn về cả chất và lượng so với các nghị quyết trước đây.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Các hệ thống, tính toàn diện, chỉ rõ tầm ảnh hưởng đến chiến lược, chặng đường phát triển của đất nước ta trong giai đoạn từ năm 2030 đến năm 2045. Nếu chúng ta kiên định đi theo định hướng chiến lược này, năng lực nội tại của nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ được nâng cao mạnh mẽ. Thực tiễn kinh nghiệm từ Trung Quốc và một số quốc gia cũng đã chứng minh rõ nét bài học này. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài không đơn thuần chỉ dừng lại ở mục tiêu gia tăng số lượng dự án, giải quyết việc làm hay tăng thu ngân sách nhà nước, mà cốt lõi là phải đạt được sự chuyển giao công nghệ tiên tiến và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Qua đó, năng lực tổng hợp và sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế trên trường quốc tế mới được tăng cường bền vững – đây là yếu tố mang tính quyết định.

Xin được đặt câu hỏi mang tính chất thực tiễn hơn, gắn với địa phương đối với ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên. Tư duy mới phải được hiện thực hóa bằng hành động mới. Địa phương là nơi kiểm nghiệm rõ nhất chất lượng của chính sách. Nếu trước đây các địa phương cạnh tranh bằng quỹ đất, ưu đãi và chi phí, thì trong giai đoạn mới Hưng Yên sẽ cạnh tranh bằng những giá trị gì để thu hút các nhà đầu tư chiến lược?

Ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Lê Quang Hoà, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên: Kể từ ngày 1/7/2025, cùng với các địa phương trên cả nước thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, việc hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình đã mở ra một không gian phát triển hoàn toàn mới, rộng lớn và có tính kết nối cao. Về địa giới hành chính, tỉnh Hưng Yên mới phía bắc tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, phía đông nam tiếp giáp với Biển Đông với chiều dài bờ biển khoảng 54 km. Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, tỉnh sở hữu quy mô dân số trên 3,6 triệu người và diện tích tự nhiên trên 2.500 km2.

Với vị trí địa-kinh tế đặc biệt thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Hưng Yên xác định mục tiêu trọng tâm là phát triển công nghiệp. Hiện nay, Hưng Yên duy trì vị thế trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI trên cả 2 phương diện số lượng doanh nghiệp và tổng vốn đăng ký, cụ thể xếp thứ 8 toàn quốc với gần 1.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động. Đồng thời, tỉnh cũng được đánh giá là một trong 10 địa phương có mức độ hấp dẫn hàng đầu đối với các doanh nghiệp lớn trong cả nước năm 2025.

Quán triệt định hướng phát triển trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, Hưng Yên đã lập quy hoạch và triển khai phát triển trên 100 cụm công nghiệp cùng 67 khu công nghiệp, với quỹ đất công nghiệp dự kiến đưa vào khai thác, sử dụng đến năm 2030 đạt trên 20.000ha. Đáng chú ý, địa bàn tỉnh còn có Khu kinh tế ven biển Thái Bình với dư địa phát triển hết sức to lớn.

Trong bối cảnh chịu áp lực rất lớn về thu hút đầu tư và tối ưu hóa việc khai thác nguồn lực hạ tầng công nghiệp, việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mang lại một luồng sinh khí mới cho các địa phương trong cả nước, đặc biệt là đối với Hưng Yên và top 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu về thu hút FDI. Nghị quyết chứa đựng nhiều điểm mới mang tính đột phá về tư duy và cơ chế.

Ngay sau khi thực hiện hợp nhất tỉnh, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ mới lần thứ nhất, tỉnh đã chủ động xác định các động lực tăng trưởng mới. Đối chiếu với Nghị quyết số 10-NQ/TW, tỉnh nhận thấy các định hướng của địa phương hoàn toàn đúng đắn và trùng khớp với chủ trương của Trung ương. Đặc biệt, tỉnh rất tâm đắc với chủ trương cho phép thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực động lực, qua đó tạo đòn bẩy thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt mức 2 con số liên tục trong vòng 10 năm theo chỉ đạo của Trung ương.

Thực hiện tinh thần chỉ đạo đó, ngay sau khi Nghị quyết số 10-NQ/TW được ban hành, Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã kịp thời cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 91/KH-UBND ngày 17/7/2025, đề ra hệ thống giải pháp cơ bản bám sát định hướng của Trung ương. Kế hoạch xác định rõ các nội dung, nhiệm vụ và giải pháp đặc thù gắn liền với điều kiện thực tiễn của tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn mới nhằm nâng cao hiệu quả thu hút nguồn vốn FDI.

Bên cạnh 6 nhóm giải pháp cơ bản nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW, tỉnh Hưng Yên đặc biệt chú trọng phát huy vai trò là một mắt xích quan trọng trong chuỗi liên kết phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp và thu hút dòng vốn FDI. Trọng tâm hàng đầu được tỉnh xác định là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống hạ tầng công nghiệp. Tỉnh tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp theo định hướng mới, phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 10-NQ/TW về mô hình khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái và khu công nghiệp dịch vụ gắn kết hài hòa với phát triển đô thị và nhà ở cho người lao động.

Một định hướng chiến lược mà Hưng Yên kiên trì triển khai trên cơ sở tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW là không phát triển công nghiệp đơn lẻ, mà luôn gắn kết chặt chẽ phát triển công nghiệp với đô thị, sinh thái, du lịch và nghỉ dưỡng. Tỉnh đang quy hoạch và phát triển chuỗi điểm du lịch sinh thái ở khu vực phía đông, trải dài dọc theo triền sông Hồng và sông Đuống, nhằm tạo dựng một môi trường hoàn chỉnh không chỉ phục vụ thu hút đầu tư sản xuất công nghiệp mà còn bảo đảm không gian sống xanh, sạch và bền vững. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành các đại đô thị và khu đô thị hiện đại như Ocean Park 2, Ocean Park 3 và Khu đô thị xanh Ecopark, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn môi trường chất lượng cao nhằm thu hút các nhà đầu tư lớn và đội ngũ chuyên gia quốc tế.

Trọng tâm thứ hai là đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng. Hưng Yên có lợi thế lớn về diện tích tự nhiên 2.500km2 thuộc vùng đồng bằng bằng phẳng và hạ tầng công nghiệp quy mô lớn. Mặc dù vậy, tỉnh cũng đối mặt với một số thách thức về hạ tầng cảng biển, sân bay và hệ thống logistics kết nối. Vì vậy, tỉnh tập trung huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông nhằm nâng cao năng lực hấp thụ vốn FDI trong giai đoạn cạnh tranh quốc tế mới. Tỉnh chủ động tạo dựng các điểm kết nối trong chuỗi liên kết vùng: kết nối với thành phố Hải Phòng – trung tâm logistics quốc tế; kết nối với tỉnh Bắc Ninh và kết nối với tỉnh Ninh Bình – trung tâm du lịch lớn, nhằm định vị rõ ràng vai trò và giá trị của Hưng Yên trong chuỗi cung ứng và liên kết phát triển khu vực.

Nội dung đột phá tiếp theo mà tỉnh quyết tâm thực hiện cả trong ngắn hạn và dài hạn là đổi mới công tác xúc tiến và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Để thu hút được dòng vốn FDI chất lượng cao từ các tập đoàn lớn, tỉnh phối hợp linh hoạt giữa phương thức truyền thống với các phương pháp tiếp cận tiên tiến. Trong khi chờ các cơ quan Trung ương cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW bằng hệ thống giải pháp tổng thể, Hưng Yên đã chủ động đổi mới quy trình, thiết lập cơ chế "luồng xanh" hành chính, thay đổi toàn diện phương thức xúc tiến đầu tư và chủ động tiếp cận các nhà đầu tư chiến lược. Mục tiêu là định hình các chuỗi giá trị sản xuất gắn liền với hạ tầng logistics và hệ sinh thái công nghiệp hiện đại của tỉnh.

Tại khu vực phía bắc của tỉnh (địa bàn tỉnh Hưng Yên trước đây), hệ thống hạ tầng công nghiệp đã được đầu tư tập trung với khoảng 17 khu công nghiệp và 20 cụm công nghiệp, tạo thành một chuỗi liên kết quy mô rất lớn. Khi Nghị quyết số 10-NQ/TW đi vào cuộc sống thông qua các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, tôi tin tưởng rằng đây sẽ là một trong những địa bàn trọng điểm để Trung ương xem xét hoạch định, phân bổ chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là trong nhóm 10 tỉnh, thành phố sở hữu hạ tầng công nghiệp vượt trội theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính).

Vấn đề thứ ba tỉnh tập trung triển khai là nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của địa phương dựa trên tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW nhằm tạo ra những động lực mới hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, thông qua Quyết định số 1499/QĐ-TTg ban hành ngày 6/8 mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Khu công nghệ cao tỉnh Hưng Yên với quy mô gần 500ha đặt tại trung tâm vùng công nghiệp phía bắc của tỉnh. Đây là một trong 2 động lực đột phá chiến lược, tạo điểm nhấn quan trọng trong quá trình hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút mạnh mẽ dòng vốn FDI công nghệ cao.

Song song với đó, Hưng Yên kiên trì kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét cho phép áp dụng mô hình thể chế vượt trội trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn vốn quốc tế. Xuất phát từ thực tiễn sở hữu hạ tầng công nghiệp rất lớn, nếu không có thể chế đặc thù, cơ chế vượt trội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và việc tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của tỉnh sẽ gặp nhiều rào cản. Do đó, tỉnh Hưng Yên đã chủ động xây dựng đề án, báo cáo Chính phủ và Bộ Tài chính từ rất sớm. Hiện Bộ Tài chính đang xem xét, thẩm định, vài chắc chắn tỉnh sẽ quyết tâm theo đuổi để có động lực phát triển bứt phá trong thời gian tới.

Một điểm nhấn quan trọng khác của Nghị quyết số 10-NQ/TW được Hưng Yên xác định là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực – yếu tố then chốt quyết định năng lực hấp thụ vốn FDI. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ dừng lại ở lực lượng lao động phục vụ doanh nghiệp FDI, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản trị công của hệ thống chính trị. Điều này đòi hỏi sự đổi mới tư duy, nâng cao trình độ quản lý từ Lãnh đạo tỉnh, các sở, ban, ngành cho đến cấp chính quyền cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc nâng cao năng lực bộ máy chính quyền có ý nghĩa quyết định trong việc tiếp nhận, quản lý hiệu quả dòng vốn đầu tư và đưa các chủ trương của Nghị quyết số 10-NQ/TW vào thực tiễn phát triển của tỉnh Hưng Yên.

Tỉnh xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm và sẽ ban hành nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm cả nhân lực quản trị nhà nước và hạ tầng nhân lực kỹ thuật đáp ứng đúng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới.

Trong thời gian tới, việc triển khai đồng bộ Nghị quyết số 10-NQ/TW cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TW, các Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, đổi mới giáo dục và y tế sẽ tạo nên một hệ sinh thái phát triển toàn diện, môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Qua đó, hình thành nguồn lực tổng hợp thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào chuỗi liên kết của các địa phương, đặc biệt là nhóm 10 tỉnh, thành phố trọng điểm có năng lực thu hút vốn FDI hàng đầu cả nước trong thời gian tới.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Là doanh nghiệp đã đầu tư và gắn bó lâu dài với Việt Nam, ông Binu Jacob đánh giá như thế nào về những tư duy cũng như định hướng mới của Nghị quyết 10? Nestlé nhìn nhận bước chuyển dịch này sẽ tác động như thế nào đến môi trường đầu tư nói chung và các kế hoạch phát triển của tập đoàn nói riêng trong giai đoạn tới tại Việt Nam?

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam: Như chúng ta đã thấy, không có nhiều quốc gia trên thế giới có thể đi được chặng đường phát triển xa và đạt được những thành tựu vượt bậc như Việt Nam. Tôi cho rằng chỉ có hai quốc gia đạt được thành tích ấn tượng như vậy, trong đó có Việt Nam.

Một điểm thể hiện rõ bản lĩnh và tầm nhìn của Chính phủ Việt Nam là nhận thức sâu sắc rằng những yếu tố tạo nên thành công trong quá khứ chưa chắc đã bảo đảm cho sự thành công trong tương lai. Đến nay, Việt Nam đã xác định một lộ trình phát triển tương lai hết sức táo bạo và giàu hoài bão, với những mục tiêu chiến lược đến năm 2045 được hoạch định và công bố rất rõ ràng.

Cùng thời điểm này, rất nhiều công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài và các tập đoàn đa quốc gia đều hướng tới Việt Nam, không chỉ vì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hay một thị trường tiềm năng với quy mô hàng trăm triệu dân. Họ không tìm đến Việt Nam chỉ vì những lợi ích ngắn hạn. Mặt khác, bản thân Chính phủ Việt Nam qua từng thời kỳ cũng có những mục tiêu ưu tiên khác nhau; chẳng hạn như ở giai đoạn đầu, mục tiêu trọng tâm là giải quyết việc làm, gia tăng nguồn thu ngân sách từ thuế. Tôi cho rằng giai đoạn thu hút đầu tư ban đầu đó hiện nay đã qua. Giai đoạn phát triển tiếp theo sẽ gắn liền với những cam kết đầu tư mang tính dài hạn, bền vững và bao trùm hơn.

Tất cả những chuyển dịch này sẽ mang lại lợi ích thiết thực, đóng góp tích cực hơn cho nền kinh tế Việt Nam cũng như hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

Dưới góc độ là một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã hiện diện và gắn bó tại Việt Nam trong suốt 30 năm qua, chúng tôi hoàn toàn cam kết và toàn tâm toàn ý với tất cả các hoạt động đầu tư của mình tại đây.

Lý do đầu tiên là bởi tầm nhìn phát triển của Việt Nam đến năm 2045 được định hình vô cùng rõ ràng, trong đó vị trí, vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã được xác định cụ thể. Chúng tôi tự hào là một thành phần, một phần không thể tách rời trong hành trình hướng tới tương lai của Việt Nam.

Lý do thứ hai khiến chúng tôi rất đồng tình và đánh giá cao định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là bởi những tư duy mới này hoàn toàn tương thích với chính phương thức mà Tập đoàn Nestlé tiến hành các hoạt động kinh doanh.

Chúng tôi hoạt động không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho riêng mình, mà luôn hướng tới việc gia tăng giá trị và mang lại lợi ích thiết thực cho toàn bộ chuỗi cung ứng, bao gồm các đối tác kinh doanh, cộng đồng địa phương, người tiêu dùng, cùng các nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Nếu không thực hiện theo phương châm đó, doanh nghiệp có thể thu được một số lợi ích ngắn hạn, nhưng chắc chắn sẽ không thể đạt được sự phát triển bền vững trong dài hạn, và Nestlé cũng đã không thể xây dựng nên một nền móng vững chắc cùng lịch sử phát triển hơn 160 năm qua.

Điểm thứ ba khiến chúng tôi hết sức hoan nghênh những định hướng đổi mới từ Nghị quyết số 10-NQ/TW là tinh thần chia sẻ trách nhiệm và tăng cường mối quan hệ hợp tác đối tác bình đẳng, chặt chẽ. Trong quá khứ, khi hợp tác với nhiều nhà cung ứng và đối tác khác nhau, việc phân định trách nhiệm đôi khi chưa thực sự rõ ràng; chẳng hạn như việc nâng cao năng lực, kỹ năng và đào tạo cho người nông dân sẽ do doanh nghiệp hay Chính phủ đảm nhiệm chính. Tôi cho rằng thời kỳ thiếu rõ ràng đó nay đã đi qua. Hiện tại, vai trò và trách nhiệm của mỗi bên đã được xác định cụ thể hơn nhiều.

Tín hiệu quan trọng đầu tiên mà Nghị quyết số 10-NQ/TW gửi đến cộng đồng doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là: Các nhà đầu tư không nên đến Việt Nam nếu chỉ nhằm tìm kiếm những lợi ích ngắn hạn; ngược lại, Việt Nam luôn rộng mở chào đón các nhà đầu tư đến để hợp tác, đồng hành, cùng tạo ra sức mạnh cộng hưởng và xây dựng các giá trị bền vững trong dài hạn.

Dù vẫn có thể tồn tại một số nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội ngắn hạn, nhưng xét về tổng thể, ngày càng có nhiều doanh nghiệp FDI tìm đến Việt Nam vì các giá trị bền vững, từ đó góp phần hình thành một hệ sinh thái lành mạnh, kết nối hiệu quả giữa khu vực đầu tư nước ngoài và cộng đồng doanh nghiệp trong nước.

Thực tiễn từ câu chuyện của Nestlé là một minh chứng rõ nét. Khi mới bắt đầu hoạt động, chúng tôi hợp tác với một đơn vị vận tải nội địa, năng lực quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, chúng tôi đã chủ động hợp tác, chia sẻ với họ các phương pháp quản trị tiên tiến, quy trình kiểm soát chất lượng, bảo vệ môi trường, cũng như các kỹ năng kỹ thuật như chuẩn hóa kệ hàng (pallet hóa) nhằm tối ưu hóa tải trọng và năng lực vận chuyển trên mỗi chuyến xe. Thay vì chỉ là mối quan hệ mua bán đơn thuần khi có sẵn đơn hàng, sự đồng hành và hỗ trợ tận tâm từ Nestlé đã giúp đơn vị vận tải này phát triển mạnh mẽ: Từ quy mô ban đầu rất nhỏ với 01 đầu xe, đến nay họ đã sở hữu đội xe lên tới 50 chiếc; từ chỗ chỉ làm đối tác cho Nestlé, họ đã mở rộng hợp tác kinh doanh với 05 doanh nghiệp lớn khác.

Còn rất nhiều ví dụ thực tế tương tự mà tôi có thể chia sẻ, nhưng nhìn một cách tổng quan, tôi khẳng định đây là một chủ trương, định hướng chính sách hết sức đúng đắn và rõ ràng của Việt Nam, chắc chắn sẽ mang lại nhiều tác động tích cực lan tỏa cho cả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài lẫn nền kinh tế trong nước.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Ông Binu Jacob đã cung cấp một góc nhìn rất giá trị từ chính khu vực doanh nghiệp FDI về Nghị quyết số 10-NQ/TW. Đánh giá đó không chỉ thể hiện một tầm nhìn chiến lược sâu rộng, đúng đắn mà còn khẳng định cam kết mạnh mẽ trong việc đồng hành lâu dài cùng sự phát triển của Việt Nam.

Qua trao đổi, chúng ta thấy rõ một trong những bước chuyển đổi lớn nhất mà Nghị quyết số 10-NQ/TW mang lại chính là sự thay đổi căn bản trong tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam không chỉ thu hút những dự án thuần túy mang vốn vào đầu tư, mà chủ động lựa chọn những đối tác chiến lược có năng lực cùng Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, nâng tầm quốc gia và cam kết đồng hành lâu dài cùng sự phát triển bền vững của đất nước.

NHÓM VẤN ĐỀ 2: FDI VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUỐC GIA

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Một trong những thay đổi lớn nhất mà Nghị quyết 10 mang lại chính là sự thay đổi trong tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư. Chúng ta không chỉ lựa chọn những dự án mang vốn đến Việt Nam, mà lựa chọn những đối tác có khả năng cùng Việt Nam nâng cao năng lực quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh rằng mục tiêu không phải là phát triển khu vực FDI một cách tách biệt, mà là để khu vực FDI và doanh nghiệp Việt Nam cùng phát triển, cùng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vậy tiêu chuẩn đánh giá thành công của FDI trong giai đoạn mới sẽ là gì?

Thưa bà Bùi Thu Thủy, đâu là những rào cản lớn nhất khiến sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đạt kỳ vọng? Và thông qua Nghị quyết, thông điệp mạnh mẽ nhất về một môi trường đầu tư an toàn, hấp dẫn và bền vững mà Việt Nam muốn gửi tới cộng đồng quốc tế là gì, thưa bà?

Bà Bùi Thu Thủy phân tích về những rào cản khiến sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đạt kỳ vọng - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Bà Bùi Thu Thủy phân tích về những rào cản khiến sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đạt kỳ vọng - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Bà Bùi Thu Thủy: Qua 40 năm phát triển, tất cả chúng ta đều thừa nhận FDI mang lại nhiều kết quả cho nền kinh tế. Tuy nhiên, thực lực nội lực của nền kinh tế đạt đến mức độ nào, đặc biệt là năng lực của các doanh nghiệp trong nước? Rõ ràng chúng ta vẫn thấy một khoảng cách rất lớn.

Như anh Hiếu đã chia sẻ, không phải đến Nghị quyết 10/NQ-TW chúng ta mới đặt vấn đề tập trung vào chất lượng hay tăng tính liên kết của FDI với doanh nghiệp trong nước. Từ Nghị quyết 50-NQ/TW và trong suốt quá trình quản lý FDI, chúng ta đã rất mong muốn thu hẹp khoảng cách này. Tuy nhiên, đây là một câu chuyện rất khó, không chỉ với Việt Nam. Khi nghiên cứu, chúng tôi thấy nhiều quốc gia cũng gặp khó khăn tương tự khi FDI vào phát triển rất tốt nhưng vẫn tồn tại câu chuyện "hai nền kinh tế".

Trong quá trình theo dõi, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân từ cả hai phía. Ở góc độ các doanh nghiệp FDI, về mặt truyền thống, khi đầu tư sang Việt Nam, họ thường mang theo hệ sinh thái và các nhà cung cấp của họ, đặc biệt là các đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc. Khi chúng tôi tiếp xúc và hỏi tại sao không thay đổi, sử dụng các doanh nghiệp phụ trợ trong nước để cắt giảm chi phí, chúng tôi cảm thấy họ rất ngại thay đổi. Khi đã thành thói quen, có mối quan hệ mật thiết và đã đánh giá nhau kỹ lưỡng, họ rất ngại thay đổi đối tác. Đây là một khó khăn cho doanh nghiệp trong nước.

Nhìn từ góc độ doanh nghiệp trong nước, rõ ràng các doanh nghiệp FDI kỳ vọng rất nhiều. Tôi có thời gian dài quản lý công tác phát triển doanh nghiệp trong nước và thừa nhận đến nay doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế để đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu quy mô nhỏ và vừa, năng lực rất hạn chế từ vốn đến quản trị và công nghệ. Số lượng doanh nghiệp vừa đủ sẵn sàng tham gia vào chuỗi với các doanh nghiệp FDI không lớn. Điều này hạn chế khả năng hấp thụ.

Thời gian qua chúng ta triển khai nhiều cơ chế chính sách, gần đây nhất Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68/NQ-TW để kích vào các nhóm doanh nghiệp trong nước. Quốc hội cũng đang thẩm định sửa đổi, bổ sung Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hay các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan và chủ yếu là năng lực đội ngũ doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, vẫn còn khoảng cách chưa thể hấp thụ được dòng vốn.

Đồng thời, chúng tôi thấy giai đoạn trước, FDI vào Việt Nam có hàm lượng công nghệ không quá nhiều, số lượng dự án gia công lắp ráp còn tương đối lớn. Khoảng 10-20 năm gần đây mới bắt đầu chuyển bước, hàm lượng công nghệ đã cao hơn. Tuy nhiên, tốc độ chuyển giao công nghệ của các tập đoàn FDI cho trong nước vẫn chủ yếu là nội bộ doanh nghiệp (từ doanh nghiệp mẹ cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam), còn chuyển giao ra bên ngoài thì vẫn rất khó.

Trong Nghị quyết 50/NQ-TW và thời gian qua trước khi có Nghị quyết 10/NQ-TW, chúng ta đã ban hành những cơ chế chính sách khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp FDI dùng nhiều hơn nhà cung ứng trong nước. Ví dụ Quyết định 29/NQ-TW về ưu đãi đầu tư đặc biệt với mức ưu đãi rất hấp dẫn, như mức cao nhất 5% trong 37 năm đối với các dự án công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực trong nước hoặc chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay mới có một dự án áp dụng quyết định này. Nghĩa là các chính sách ưu đãi của chúng ta chưa đủ để các doanh nghiệp FDI cảm thấy mặn mà nhận ưu đãi gắn với việc đó. Hay chúng ta có Nghị định 182/2024/NĐ-CP có quy định bù đắp ưu đãi thuế khi áp dụng Thuế tối thiểu toàn cầu bằng hình thức hỗ trợ đầu tư cho doanh nghiệp. Đây là cơ chế rất mới, Bộ Tài chính đang triển khai nhưng còn khó khăn trong câu chuyện giải ngân để đạt được hiệu quả mong muốn của các doanh nghiệp.

Chúng tôi thấy hệ sinh thái các doanh nghiệp phụ trợ trong nước mặc dù đã có nhiều cơ chế chính sách nhưng còn những hạn chế. Chính vì vậy, trong Nghị quyết 10/NQ-TW này, với định hướng của Bộ Chính trị, giải pháp sắp tới của chúng ta phải rất vượt trội và khác biệt mới mong thay đổi được những thực tế trong thời gian qua.

Qua tinh thần Nghị quyết 10/NQ-TW, chúng tôi muốn thể hiện một thông điệp, một cam kết mạnh mẽ đối với cộng đồng nhà đầu tư: Coi kinh tế FDI là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Chính phủ coi kết quả hoạt động, thành tích, thành tựu của FDI không chỉ là vấn đề lợi nhuận doanh nghiệp mà là kết quả trong phát triển kinh tế đất nước. Khi doanh nghiệp thành công thì đó cũng là kết quả phát triển kinh tế của đất nước. Đây là thông điệp khẳng định rất rõ trong Nghị quyết 10/NQ-TW. Tất cả các chính sách chúng tôi hướng tới đều phân vai rõ ràng: các nhà đầu tư nước ngoài có vai trò gì, trách nhiệm gì; đổi lại nhà nước sẽ làm gì từ thể chế, chuẩn bị hạ tầng chiến lược đến nguồn nhân lực để nâng cao năng lực hấp thụ FDI chất lượng cao.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Chính sách là điều kiện cần. Nhưng sự lan tỏa chỉ xảy ra khi doanh nghiệp thực sự kết nối với nhau. Nestlé đã gắn bó với Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Theo ông Binu Jacob, điều gì khiến một tập đoàn toàn cầu quyết định mở rộng đầu tư lâu dài tại một quốc gia?

Trong giai đoạn Việt Nam hướng tới FDI chất lượng cao, Nestlé kỳ vọng môi trường đầu tư sẽ thay đổi như thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm chiến lược trong mạng lưới toàn cầu của Tập đoàn?

Ông Binu Jacob trao đổi cùng các vị khách mời tại Tọa đàm - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Binu Jacob trao đổi cùng các vị khách mời tại Tọa đàm - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Binu Jacob: Trong một thời gian dài, Chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có lẽ đều chú trọng nhiều đến các chính sách ưu đãi. Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ khi cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng, ưu đãi đầu tư không còn là yếu tố quyết định duy nhất. Các ưu đãi chỉ đóng vai trò như yếu tố gia tăng bổ trợ, chứ không phải là lý do cốt lõi hay dài hạn để các tập đoàn đa quốc gia lựa chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tư.

Đối với các tập đoàn toàn cầu như Nestlé, khi duy trì và mở rộng quy mô hoạt động, điều đầu tiên giữ vai trò quyết định là chúng tôi tin tưởng vào các định hướng chiến lược do Chính phủ Việt Nam đề ra. Thứ hai, toàn bộ khuôn khổ chính sách của Chính phủ cần bảo đảm tính minh bạch và có thể dự báo được.

Chúng tôi hiểu rằng sự điều chỉnh chính sách là điều luôn xảy ra trong quá trình phát triển, nhưng các thay đổi đó cần nằm trong lộ trình có thể dự báo trước. Điều các nhà đầu tư e ngại nhất chính là sự thiếu chắc chắn và tính bất ổn không thể dự báo.

Bên cạnh đó, chất lượng của nguồn nhân lực là một trụ cột hết sức quan trọng. Yếu tố then chốt tiếp theo là một hệ sinh thái phụ trợ vững mạnh, tạo tiền đề cho phép chúng tôi triển khai các chiến lược đầu tư dài hạn. Khi các tiêu chí nêu trên được đáp ứng, hoặc ít nhất khi các nhà đầu tư nhận thấy cam kết cùng nỗ lực rõ ràng của Chính phủ Việt Nam trong việc chú trọng hoàn thiện các điều kiện này - dù có thể chưa đồng bộ ngay lập tức nhưng sẽ được cải thiện trong tương lai - chúng tôi chắc chắn sẽ tự tin cân nhắc việc mở rộng quy mô hoạt động tại Việt Nam.

Mặc dù đây là những vấn đề mang tính chiến lược dài hạn, song thời gian gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có những bước nâng tầm quản trị rất đáng ghi nhận, liên tục phát đi các định hướng và tín hiệu chính sách tích cực. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trong khu vực thể hiện được tầm nhìn và định hướng nhất quán như vậy. Nhìn chung, khuôn khổ chính sách của Việt Nam tương đối dễ dự báo, môi trường đầu tư duy trì sự ổn định. Đặc biệt, nguồn nhân lực có chất lượng rất tốt, nhất là thế hệ trẻ giàu tiềm năng.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là yếu tố hệ sinh thái. Mặc dù hệ sinh thái hiện tại chưa hoàn toàn đáp ứng hết các kỳ vọng của nhà đầu tư, song sự liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong nước, các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu đang ngày càng được định hình và củng cố vững chắc. Việc triển khai thêm nhiều bước đi cụ thể chính là những tín hiệu hành động hết sức mạnh mẽ.

Yếu tố cần tiếp tục hoàn thiện là việc xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi, giúp các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn và chủ động nâng cao năng lực để trở thành đối tác tin cậy - tương tự như bài học mà một khách mời đã đề cập về lý do các doanh nghiệp FDI mong muốn hợp tác với các nhà cung ứng quen thuộc. Nền tảng của mọi sự hợp tác chính là niềm tin. Khi có được niềm tin chiến lược, chúng ta nhất định sẽ tìm ra giải pháp hiệu quả cho mọi thách thức phát sinh.

Xin lấy một ví dụ thực tiễn: Khi Nestlé bắt đầu hiện diện và đầu tư tại Việt Nam cách đây khoảng 30 năm, Việt Nam khi đó chỉ nằm trong nhóm 20 quốc gia sản xuất cà phê trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã vươn lên vị trí hàng đầu thế giới về sản lượng cà phê.

Ngay từ hơn 20 năm trước, chúng tôi đã nhìn thấy tiềm năng to lớn của ngành cà phê Việt Nam và xác định Nestlé cần phải trở thành một đối tác chiến lược đồng hành trong hành trình phát triển này. Chúng tôi không chỉ dựa vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) từ bên ngoài, mà chủ động thiết lập mối quan hệ hợp tác sâu rộng với các đối tác trong nước.

Khi đó, Nestlé đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đồng thời hợp tác với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) và tiếp cận trực tiếp với lực lượng nông dân. Nhận thấy tiềm năng phát triển của cây cà phê nhưng người nông dân còn hạn chế về năng lực nghiên cứu, chọn tạo giống, Nestlé đã đóng vai trò cầu nối chuyển giao các kết quả nghiên cứu di truyền giống từ các viện nghiên cứu uy tín của Pháp, kết hợp với các viện nghiên cứu trong nước để hỗ trợ bà con.

Đến nay, các chương trình hợp tác đối tác đó đã mang lại những kết quả rất cụ thể. Đã chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống cà phê chất lượng cao, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện thổ nhưỡng và biến đổi khí hậu tại Việt Nam, tiết kiệm lượng nước tưới và phân bón, bộ tán rộng và cho năng suất vượt trội.

Nhờ các nghiên cứu được triển khai liên tục và bài bản, năng suất của các hộ nông dân trồng cà phê tham gia dự án hiện nay đã cao gấp 3 lần so với mức năng suất trung bình. Những thành quả này chỉ có thể đạt được nhờ mối quan hệ hợp tác chiến lược và niềm tin sâu sắc giữa các bên. Quá trình chuyển giao tri thức, công nghệ và áp dụng các thông lệ tốt nhất đã góp phần tạo nên một ngành công nghiệp cà phê Việt Nam vững mạnh với sức cạnh tranh vượt trội trên thị trường quốc tế.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Những chia sẻ của ông Binu Jacob đã truyền tải một thông điệp rất rõ ràng và thiết thực.

Thứ nhất, định hướng chiến lược phát triển cần phải rõ ràng.

Thứ hai, các chính sách điều chỉnh phải có tính dự báo cao; việc thay đổi chính sách không phải là không thể, nhưng phải theo lộ trình minh bạch, có thể dự báo được và hướng tới hoàn thiện môi trường đầu tư.

Thứ ba, nguồn nhân lực phải được phát triển tương xứng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn.

Thứ tư, cần tập trung hoàn thiện hệ sinh thái đồng bộ.

Nội dung được ông Binu Jacob nhấn mạnh và cũng là vấn đề chúng ta cần tập trung trong hoạch định chính sách chính là phát triển hệ sinh thái. Hiện nay, hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong nước, chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các viện nghiên cứu và người tiêu dùng nội địa vẫn còn có những mảng rời rạc, chưa thực sự kết nối vận hành đồng bộ. Đây là một bài toán lớn đặt ra cho công tác quản lý và phát triển.

Ý cuối cùng rất quan trọng là yếu tố lòng tin. Lòng tin chính là nguồn vốn xã hội lớn nhất để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và thu hút cam kết đầu tư dài hạn. Khi tầm nhìn chiến lược rõ ràng, chính sách có thể dự báo và hệ sinh thái vận hành hiệu quả, lòng tin của các nhà đầu tư sẽ tự nhiên được củng cố và tăng cường.

Một hệ sinh thái FDI chỉ thực sự thành công khi doanh nghiệp trong nước cùng lớn lên. Thưa ông Lê Quang Hòa, Hưng Yên sẽ làm gì để hình thành mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế? Đâu là những rào cản mà địa phương đang tập trung tháo gỡ?

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Lê Quang Hòa (trái) chia sẻ những giải pháp để hình thành mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên Lê Quang Hòa (trái) chia sẻ những giải pháp để hình thành mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Lê Quang Hòa: Nội dung này trong Nghị quyết 10/NQ-TW đã nêu rất rõ mục tiêu đến năm 2030, tỉ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực phải đạt từ 45-50%, và có trên 10.000 doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi xây dựng kế hoạch, tỉnh Hưng Yên cũng đặt ra chỉ tiêu bám sát mục tiêu của Trung ương và Nghị quyết 10, phấn đấu có trên 270 doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI.

Đến thời điểm này, Hưng Yên có khoảng 4.200 doanh nghiệp đang hoạt động đầu tư, trong đó có 975 doanh nghiệp FDI. Thực tế tại Hưng Yên, một số khu công nghiệp như Sumitomo hầu như chỉ có doanh nghiệp Nhật Bản, chưa có doanh nghiệp Việt Nam tham gia. Hệ sinh thái của doanh nghiệp Nhật Bản nằm trọn trong khu này, tạo ra thách thức lớn cho doanh nghiệp trong nước trong việc tiếp cận chuỗi sản xuất của họ. Chúng tôi đã nghiên cứu vấn đề này và định hướng khi phát triển các khu công nghiệp khác như VSIP, WHA hoặc các khu công nghiệp do nước ngoài đầu tư hạ tầng, sẽ xây dựng một hệ sinh thái không chỉ dành riêng cho doanh nghiệp nước ngoài mà bao gồm cả các doanh nghiệp trong nước cùng lĩnh vực, cùng tính chất ngành nghề. Qua đó, doanh nghiệp nội địa có thể vào khu công nghiệp sản xuất và dần tiếp cận hệ sinh thái của các nhà đầu tư nước ngoài.

Có một điểm tích cực là trong quá trình triển khai các nhà máy công nghệ cao, đặc biệt là nhà đầu tư Nhật Bản, việc chuyển giao công nghệ và năng lực quản trị cho người Việt là rất lớn. Ví dụ, tại Khu công nghiệp Thăng Long 2, có doanh nghiệp Nhật Bản chỉ có khoảng 3-5 quản lý là người Nhật, còn lại toàn bộ là người Việt Nam. Đây là một tín hiệu rất tốt. Các doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc sẵn sàng chuyển giao kỹ năng quản lý lẫn kỹ thuật, hoạt động vận hành chủ yếu do kỹ sư và nhà quản lý Việt Nam đảm nhiệm, phía nước ngoài chỉ quản lý ở mức vĩ mô. Đây là vấn đề Trung ương cần nghiên cứu khi hoạch định chính sách.

Việc tham gia vào chuỗi của các tập đoàn lớn hiện có một số thách thức: Thứ nhất là nguồn nhân lực: Doanh nghiệp FDI trả lương rất cao nên việc thu hút kỹ sư và lao động kỹ thuật cao rất dễ dàng, trong khi doanh nghiệp Việt Nam lại gặp khó khăn.

Thứ hai là công nghệ: Các nhà đầu tư nước ngoài thường đưa công nghệ rất hiện đại sang Việt Nam. Trừ các lĩnh vực như may mặc, việc tiếp cận chuỗi giá trị của các ngành công nghệ cao đối với chúng ta là cực kỳ khó.

Thứ ba là nguồn vốn: Các doanh nghiệp trong nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đa số có quy mô nhỏ và vừa, nguồn vốn hạn chế.

Vì những thách thức này, việc tham gia chuỗi giá trị để đạt được chỉ tiêu về ngành công nghiệp chủ lực như kỳ vọng của tỉnh và quốc gia hiện vẫn chưa thực sự rõ nét. Vừa qua, Bộ Công thương đã chỉ đạo thống kê và báo cáo lại các lĩnh vực chủ lực tại Hưng Yên để xác định hướng đi cụ thể trong số 4.200 doanh nghiệp hiện có.

Trong thời gian tới, bám sát nhiệm vụ của Nghị quyết 10/NQ-TW, Hưng Yên xác định ba nhóm giải pháp chính:

Nhóm 1: Tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào tỉnh có cam kết sử dụng nguồn lực lao động đã qua đào tạo, hoặc đưa lao động sang nước ngoài đào tạo rồi đưa trở lại làm việc. Khuyến khích họ cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển để chuyển giao cho người Việt. Tỉnh sẽ triển khai khu công nghệ cao theo hướng này để tạo chuỗi chuyển giao công nghệ bền vững.

Nhóm 2: Tăng cường hỗ trợ cơ chế cho doanh nghiệp nội địa (đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân) để nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, tiếp cận nguồn tài chính và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước liên doanh, liên kết, mua bán sáp nhập để từng bước tăng tỉ lệ góp vốn hoặc mua lại công nghệ với thủ tục hành chính nhanh nhất.

Nhóm 3: Xây dựng cơ chế kết nối thông qua các hội thảo xúc tiến chuyên đề giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để các bên đàm phán, liên kết. Vừa qua, tỉnh đã tổ chức hội nghị chuyên đề lớn giữa doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam, bước đầu nhận được sự quan tâm hợp tác rất tốt. Tỉnh cũng khuyến khích các quỹ đầu tư, quỹ tài chính tham gia góp vốn hoặc đầu tư tài chính.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất vẫn là chính sách cấp Trung ương để tạo dựng và nâng cao năng lực sản xuất cho doanh nghiệp trong nước. Vai trò của địa phương là thực thi và tạo môi trường tốt nhất cho các nhà đầu tư. Với tốc độ phát triển nhanh của hạ tầng công nghiệp tại Hưng Yên hiện nay, để đạt được mục tiêu Đảng và Nhà nước đề ra, nhất định phải có những chính sách vượt trội. Chúng ta cần coi doanh nghiệp FDI như doanh nghiệp trong nước để tạo sự gắn kết mật thiết. Các dự án FDI hàng tỷ đô la hay hàng trăm triệu đô la tại Hưng Yên đã hòa quyện với địa phương, thậm chí hình thành các khu đô thị đa văn hóa như ở Ocean Park. Vì vậy, cần cụ thể hóa một cơ chế đủ mạnh để các nhà đầu tư sẵn sàng đưa doanh nghiệp Việt vào chuỗi hệ thống toàn cầu. Hưng Yên sẵn sàng thực hiện, thậm chí thử nghiệm các chính sách mới để đạt kết quả tốt nhất.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Cuối cùng, vấn đề cốt lõi vẫn là năng lực của doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông Phan Đức Hiếu, đâu là những cải cách thể chế cần ưu tiên để doanh nghiệp Việt Nam không chỉ trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn FDI tại Việt Nam mà còn đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu?

Ông Phan Đức Hiếu trao đổi về những cải cách thể chế cần ưu tiên để doanh nghiệp Việt Nam có thể trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn FDI tại Việt Nam và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Phan Đức Hiếu trao đổi về những cải cách thể chế cần ưu tiên để doanh nghiệp Việt Nam có thể trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn FDI tại Việt Nam và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Phan Đức Hiếu: Tôi cho rằng chúng ta cần thay đổi tư duy tiếp cận vấn đề này. Khi chuyển đổi tư duy thu hút FDI từ việc chỉ chú trọng vào một hoặc một số khâu riêng lẻ sang nhìn nhận trong toàn bộ hệ sinh thái, thì cải cách thể chế mang tính ưu tiên hàng đầu chính là phải thực hiện một cách đồng bộ.

Chúng ta không thể tách rời việc cải cách giữa các bộ, ngành theo hướng bộ, ngành này triển khai nhưng bộ, ngành khác lại không thực hiện. Hoặc không thể có tình trạng Trung ương triển khai nhưng địa phương không thực hiện, hay địa phương tích cực chủ động nhưng Trung ương lại chưa theo kịp. Do đó, ưu tiên hàng đầu hiện nay phải là tính đồng bộ, đồng thời và kịp thời trên tất cả các ngành, các lĩnh vực, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, đơn vị liên quan.

Vấn đề căn bản thứ hai liên quan đến việc nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp Việt Nam - bản chất theo ngôn ngữ khoa học là nâng cao "năng lực hấp thụ" đối với dòng vốn FDI. Tôi cho rằng chúng ta cần xác định một hệ thống mục tiêu tổng quát và toàn diện hơn, gồm ba cấp độ:

Thứ nhất, nâng cao năng lực của Việt Nam nhằm sẵn sàng tiếp nhận và hấp thụ các dự án FDI có chất lượng cao. Đây là mục tiêu nền tảng ban đầu, nhưng không nên chỉ dừng lại ở đây.

Thứ hai, việc nâng cao năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam chính là nâng cao nội lực và chất lượng tổng thể của nền kinh tế quốc dân.

Thứ ba, chúng ta không chỉ dừng lại ở hai mục tiêu trên mà cần tiến tới mục tiêu thứ ba: Hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu do chính các doanh nghiệp Việt Nam vươn lên nắm vai trò dẫn dắt.

Do đó, cần xác định rõ một mục tiêu tổng quát mang tính chiến lược dài hạn, không dừng lại ở việc chỉ tạo ra đối tác sẵn sàng hợp tác với khu vực FDI, mà phải hướng tới mục tiêu phát triển lớn hơn. Cách tiếp cận này mới bảo đảm tính dài hạn, độ chuẩn xác và hiệu quả trong công tác thiết kế chính sách.

Nội dung tôi quan tâm nhất hiện nay là khi quán triệt và triển khai thực hiện các định hướng về FDI, chúng ta không nên đặt chính sách FDI riêng lẻ. Ít nhất chúng ta phải triển khai đồng thời và song song ba nghị quyết quan trọng của Đảng. Đó là Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030; Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; và Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Tinh thần cốt lõi của cả ba nghị quyết này đều nhấn mạnh đến sự hợp tác, kết nối giữa các khu vực kinh tế nhằm gia tăng giá trị và nâng cao sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế quốc dân. Do đó, việc triển khai bắt buộc phải mang tính đồng thời.

Từ thực tiễn đó, kiến nghị đầu tiên của tôi là: Thứ nhất, phải thực hiện đồng thời, đồng bộ. Tất cả các bộ, ngành cần rà soát hệ thống quy định pháp luật hiện hành, nhưng không chỉ dựa thuần túy trên Nghị quyết số 50-NQ/TW, mà phải căn cứ vào việc đánh giá tổng thể cả Nghị quyết số 12-NQ/TW, Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 50-NQ/TW để làm cơ sở pháp lý ban hành các giải pháp đồng bộ. Nếu chỉ rà soát riêng lẻ từng nghị quyết thì các giải pháp đưa ra có thể triệt tiêu lẫn nhau, chồng chéo, trùng lặp và không đạt hiệu quả. Vì vậy, cần rà soát đồng bộ để có kế hoạch sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật một cách kịp thời.

Nội dung kiến nghị tiếp theo là các bộ, ngành tham mưu ban hành một Chương trình hành động hoặc Kế hoạch hành động chung tổng thể cho cả ba nghị quyết, thay vì ban hành riêng từng chương trình hành động cho từng nghị quyết độc lập. Tôi rất mong Chính phủ nghiên cứu, xem xét vấn đề này để ban hành một Kế hoạch hoặc Chương trình hành động chung thống nhất.

Đối với các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam, tôi cho rằng trước mắt chúng ta đang có các cơ hội thể chế quan trọng. Đó là Quốc hội đang xem xét, sửa đổi Luật Đầu tư và các dự án luật trực tiếp liên quan; Các cơ quan đang rà soát, sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017; Bộ Công Thương đang xây dựng dự thảo Luật Phát triển công nghiệp (Luật Công nghiệp trọng điểm); Chính phủ đang rà soát, hoàn thiện Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tất cả các văn bản này cần được rà soát mang tính hệ thống, không nên tách bạch, qua đó tận dụng cơ hội sửa đổi để hoàn thiện thể chế một cách đồng bộ.

Về mặt nguyên tắc thiết kế chính sách, chúng ta phải thừa nhận thực tế rằng các giải pháp hỗ trợ đã được ban hành, nhưng hiệu quả triển khai chưa đạt mục tiêu đề ra, thậm chí thấp hơn nhiều so với kỳ vọng. Do đó, việc rà soát chính sách cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Mức độ khuyến khích, hỗ trợ đã đủ dung lượng và quy mô chưa? Mức độ khuyến khích đã trúng và đúng đối tượng chưa?

Cần tránh tối đa tình trạng hỗ trợ dàn trải. Đặc biệt, phải phòng ngừa nguy cơ cơ chế hỗ trợ bị biến thành "bẫy chính sách" để các đối tượng lợi dụng, tận dụng nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước nhưng không tạo ra hiệu quả thực chất cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Đồng thời, cần cân bằng giữa giải pháp hỗ trợ tài chính và giải pháp hỗ trợ kỹ thuật. Lấy ví dụ trong các lĩnh vực như nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp hay chuyển đổi số.

Đối với doanh nghiệp, chuyển đổi số quan trọng nhất là giải pháp thực thi. Cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng giải pháp theo cơ chế thị trường, còn tổ chức thực hiện phải là bản thân doanh nghiệp. Nếu chỉ cấp cho doanh nghiệp một khoản tài chính mà thiếu giải pháp đồng bộ thì sẽ không mang lại kết quả thực tế.

Đối với kiến nghị cụ thể dành cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, ưu tiên số một hiện nay là giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất, kinh doanh với mức giá hợp lý. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các doanh nghiệp khoa học - công nghệ, đã có thị trường tiêu thụ rất tốt tại Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng lại thiếu mặt bằng sản xuất để mở rộng quy mô.

Mong muốn lớn hơn của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ là tiếp cận được mặt bằng đã hoàn thiện về hạ tầng. Yếu tố lo ngại nhất của doanh nghiệp hiện nay khi có mặt bằng là các thủ tục hành chính phức tạp liên quan đến xây dựng, phòng cháy chữa cháy, đánh giá tác động môi trường...

Khi tiếp xúc thực tế với các doanh nghiệp quy mô nhỏ, những thủ tục như giấy phép xây dựng, phòng cháy chữa cháy, môi trường là rào cản rất lớn đối với họ. Vì vậy, việc Nhà nước cung cấp quỹ đất sản xuất kinh doanh có mức giá phù hợp gắn với hệ thống hạ tầng hoàn chỉnh sẽ là giải pháp hỗ trợ thiết thực, trực tiếp và hiệu quả nhất cho doanh nghiệp nội địa.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Qua ý kiến trao đổi đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy triển khai gắn kết đồng bộ cả ba nghị quyết: Nghị quyết về thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), Nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Các nghị quyết này có mối quan hệ tương tác hữu cơ, cùng thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế.

Đồng thời, để doanh nghiệp Việt Nam vươn tầm ra thị trường toàn cầu, trước hết cần tăng cường kết nối với khối doanh nghiệp FDI, kết hợp với việc hoàn thiện môi trường thể chế minh bạch, cạnh tranh lành mạnh để doanh nghiệp tự vươn lên trưởng thành.

Qua thảo luận, chúng ta thấy rằng sự thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài FDI không còn được đo lường thuần túy bằng số lượng dự án hay tổng số vốn đăng ký, mà thước đo quan trọng nhất chính là mức độ lan tỏa công nghệ, tri thức, năng lực quản trị và cơ hội phát triển tạo ra cho các doanh nghiệp Việt Nam.

NHÓM VẤN ĐỀ 3: ĐIỀU GÌ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Nghị quyết 10 đã xác định hệ thống các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, với 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đột phá. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh rằng điểm quyết định không nằm ở nghị quyết, mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện. Vậy điều gì sẽ quyết định thành công của Nghị quyết 10 trong thực tiễn? Sau đây, xin trao đổi nhanh với các đại biểu về nội dung này.

Xin hỏi đại biểu của địa phương, ông Lê Quang Hòa. Nếu được thay đổi một việc ở cấp địa phương để nâng cao năng lực thu hút FDI thì ông sẽ lựa chọn điều gì?

Ông Lê Quang Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên và TS. Nguyễn Sĩ Dũng - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Lê Quang Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên và TS. Nguyễn Sĩ Dũng - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Lê Quang Hòa: Thực ra địa phương không thể tự thay đổi, nhưng nếu được đề nghị và được đồng ý để thay đổi, thì địa phương, trong đó có Hưng Yên, sẽ chọn việc đưa ra một cơ chế đặc thù của khu vực địa phương để tạo điều kiện cho FDI phát triển trên địa bàn theo định hướng của Nghị quyết 10.

Về việc thực hiện Nghị quyết 10, nội dung Nghị quyết đầy đủ rồi, không còn vấn đề gì phải điều chỉnh nữa. Nhưng Nghị quyết cũng chỉ đưa ra yêu cầu sẽ tăng cường đẩy mạnh và đổi mới. Vậy đổi mới cái gì? Tôi đề nghị đổi mới ở ba điểm sau bằng những việc rất cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới ngay trong hoạt động xúc tiến đầu tư. Đây là vấn đề rất cấp bách. Hiện nay chúng ta đang tách bạch xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại. Hưng Yên và nhiều tỉnh khác đang phải hoạt động hoàn toàn độc lập trong vấn đề này. Các tỉnh phải tự liên hệ, tự đến tìm đối tác thông qua những kênh rất nhỏ, ví dụ như qua tham tán, chuyên gia, chuyên viên, cán bộ lãnh sự hoặc đại sứ quán. Chúng ta chưa có một kênh thống nhất trong việc hoạch định xúc tiến đầu tư đối với các đối tác nước ngoài.

Xúc tiến đầu tư như hiện nay chỉ có thể thu hút được những nhà đầu tư rất nhỏ. Bởi vì nhà đầu tư lớn cần sự đảm bảo của quốc gia, cần sự hoạch định chiến lược phát triển của từng vùng. Có nhà đầu tư nước ngoài đến tỉnh Hưng Yên và nói rằng: "Tôi đã đi 34 tỉnh và tôi ký MOU với ba mươi mấy tỉnh rồi". Như thế là rất khó khăn trong hoạch định. Trước hết phải đổi mới trong việc tổ chức bộ máy của Trung tâm xúc tiến đầu tư quốc gia. Nhiều nước, chẳng hạn như Hàn Quốc, chỉ có một trung tâm trực thuộc Chính phủ, làm đầu mối thống nhất để liên hệ, đưa ra các cơ chế chính sách, đặc điểm để thu hút. Tôi rất mong ở Việt Nam sẽ đổi mới cơ chế để thu hút đầu tư.

Thứ hai, tôi rất mong Trung ương cần sớm hoạch định rõ trong luật, như ông Hiếu có ý kiến về Luật Công nghiệp chiến lược, xem tỉnh này, hạ tầng này thì thích ứng với công nghệ gì; tỉnh kia thích ứng công nghệ gì, để định hướng dòng vốn đầu tư về đó, không trùng lặp, tránh cạnh tranh hạ tầng khu công nghiệp, làm mất đi giá trị và tạo ra một nền kinh tế không đồng bộ.

Ví dụ, Hưng Yên đang phát triển khu công nghệ cao gắn với trung tâm dữ liệu số 2 vì có nhiều yếu tố thuận lợi (như địa chất, nguồn năng lượng...). Nhưng nếu các chỗ khác cũng làm y như thế thì sẽ rất dàn trải. Do đó, tôi đề nghị trong xúc tiến đầu tư và hoạch định quy mô đầu tư, định vị nhà đầu tư lớn cho từng khu vực là rất cần thiết.

Thứ ba, tôi đề nghị xem xét, tính toán đến việc liên kết vùng. Hiện nay, sự liên kết giữa các tỉnh với nhau trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ vẫn rất khó khăn. Đây là một điểm nghẽn cần phải giải tỏa. Đặc biệt đối với Hưng Yên lại càng cần, bởi vì chúng tôi không có cảng biển lớn, không có sân bay. Quá trình tự phối hợp, đàm phán với nhau để tạo ra một chuỗi logistics, hình thành hệ sinh thái công nghiệp của vùng Đồng bằng sông Hồng đang là điểm nghẽn. Rất cần Trung ương hoạch định để tạo thành một khu vực liên kết mà không ai giẫm chân lên nhau.

Thứ tư, Nghị quyết 10 nói rất rõ về thí điểm thể chế vượt trội. Đã gọi là thí điểm thì không thể làm đại trà được. Chúng ta đang có những khu kinh tế ven biển, khu kinh tế chuyên biệt,... các khu này phát huy đến đâu khi sự ưu đãi ở mọi nơi là bằng nhau, nguồn lực lại thấp? Vì vậy, tôi đề nghị Trung ương nên thành lập một ban riêng chuyên biệt (có thể không chuyên trách) để tiếp nhận những mô hình mà các tỉnh/thành phố đề xuất là "vượt trội", là "thí điểm có kiểm soát". Từ đó, rút ngắn thời gian quy trình, tạo cơ hội cho các tỉnh mạnh dạn đưa ra mô hình mới và được thẩm định trên tầm quốc gia. 

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Theo ông Phan Đức Hiếu, cùng với các giải pháp đã được đề cập trong nghị quyết, Quốc hội cần ưu tiên hoàn thiện những thiết chế nào để tạo dựng một môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và có khả năng cạnh tranh quốc tế trong dài hạn?

Và để các hoạt động kết nối, liên kết, hợp tác giữa khu vực doanh nghiệp FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước đạt hiệu quả cao hơn, thiết thiết thực hơn, hình thành hệ sinh thái FDI chất lượng cao, ông có kiến nghị, đề xuất gì?

Ông Phan Đức Hiếu nêu kiến nghị, đề xuất để các hoạt động kết nối, liên kết, hợp tác giữa khu vực doanh nghiệp FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước đạt hiệu quả cao hơn, thiết thiết thực hơn - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Phan Đức Hiếu nêu kiến nghị, đề xuất để các hoạt động kết nối, liên kết, hợp tác giữa khu vực doanh nghiệp FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước đạt hiệu quả cao hơn, thiết thiết thực hơn - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Phan Đức Hiếu: Theo tôi, đây là một trong những mấu chốt cốt lõi. Lý do tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề này là bởi đây không phải lần đầu tiên chúng ta đề cập đến bài toán liên kết. Trong suốt giai đoạn vừa qua, chúng ta đã ban hành nhiều thể chế và chính sách, nhưng thực tế cho thấy kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng mục tiêu đề ra và chưa đạt được kỳ vọng kỳ vọng.

Về bản chất của sự liên kết này, dưới góc độ lý thuyết, trước hết xuất phát từ yếu tố tự nguyện giữa các bên. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa thuần túy vào sự tự nguyện thì sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn. Do đó, nhất thiết phải có thêm sự tác động mang tính kích thích từ phía Chính phủ thông qua các công cụ chính sách.

Lần này, trong quá trình thể chế hóa Nghị quyết 10, tôi rất mong chúng ta tiến hành rà soát lại toàn bộ các quy định đã ban hành, đặc biệt là Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ, đồng thời tận dụng hiệu quả các cơ hội từ Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tôi đề xuất một cách tiếp cận mang tính tổng thể và thúc đẩy từ cả hai phía, hai nhóm đối tác: Doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Và tôi đặc biệt nhấn mạnh đến khâu trung gian, tôi cho rằng khâu trung gian đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, về phía doanh nghiệp trong nước: Nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp. Việc nâng cao năng lực sẽ giúp gia tăng mức độ sẵn sàng và mở ra nhiều cơ hội vào chuỗi liên kết. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI bày tỏ mong muốn tìm kiếm đối tác trong nước, nhưng lại gặp khó khăn trong việc chọn lựa những đơn vị đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật khắt khe.

Thứ hai, về phía doanh nghiệp FDI, cần bổ sung thêm các chính sách khuyến khích, kích thích. Mặc dù đã có một số doanh nghiệp như Nestlé chủ động, tự nguyện tìm kiếm đối tác nội địa dù chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể từ Nhà nước, nhưng đó mới chỉ là định hướng riêng của từng doanh nghiệp. Để chính sách này lan tỏa rộng rãi hơn trong cộng đồng doanh nghiệp FDI, vốn hiện nay vẫn còn hạn chế và rõ ràng cần phải có cơ chế kích thích phù hợp.

Tôi đề nghị rà soát kỹ Luật Đầu tư, nơi quy định danh mục ngành, nghề và đối tượng ưu đãi đầu tư. Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy mặc dù đã có một số quy định hướng tới thúc đẩy sự liên kết này, nhưng các chính sách cụ thể vẫn chưa thực sự rõ nét. Do đó, cần rà soát lại toàn bộ Luật Đầu tư và các luật liên quan để hoàn thiện khung chính sách, bám sát quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết 21. Lần này, chúng ta cần tránh ưu đãi hình thức, mà phải thực sự thực hiện ưu đãi dựa trên kết quả đầu ra thực tế.

Thứ ba, về khâu trung gian, bài học kinh nghiệm do ông Binu Jacob chia sẻ cho thấy yếu tố then chốt nhất để hai bên kết nối thành công chính là niềm tin. Như bà Thủy đã phân tích, lý do các doanh nghiệp FDI thường ưu tiên chọn đối tác quen thuộc là vì họ đã hợp tác lâu năm (từ 5 đến 10 năm) và đã có sự tin cậy lẫn nhau. Câu hỏi đặt ra là niềm tin bắt nguồn từ đâu và cơ quan nào sẽ bảo chứng cho niềm tin đó nếu chỉ có sự tiếp xúc thuần túy giữa hai doanh nghiệp?

Vì vậy, tôi rất mong muốn trong thời gian tới, Nhà nước cần ban hành các chính sách kích thích, đồng thời nghiên cứu hình thành các định chế trung gian chuyên trách nhằm tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Ở cấp độ cao hơn, khâu trung gian không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm đầu ra mà còn là công cụ bảo đảm niềm tin và giám sát thực thi cam kết giữa hai bên. Do đó, vai trò của khâu trung gian là cực kỳ quan trọng.

Về mô hình phát triển khâu trung gian, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn gợi mở một số hướng đi:

Thứ nhất, các hiệp hội doanh nghiệp hoàn toàn có thể đảm nhận vai trò kết nối trung gian.

Thứ hai, sự tham gia của chính quyền địa phương. Như trao đổi từ ông Hòa, thực tế đã chứng minh trong các mô hình liên kết (ví dụ giữa nông dân và doanh nghiệp), khi có sự đồng hành, xác nhận và giám sát thực thi cam kết của chính quyền địa phương thì sự tin cậy của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Điều này giúp hạn chế tình trạng vi phạm hợp đồng khi giá cả thị trường biến động, từ đó củng cố niềm tin bền vững.

Thứ ba, tham khảo mô hình định chế chuyên trách của quốc tế. Qua nghiên cứu mô hình tại Trung Quốc, chính quyền tại đây đã thành lập Trung tâm Phát triển Hiệp đồng Doanh nghiệp. Đây là cơ quan do chính quyền thành lập nhằm thực hiện chức năng kết nối các doanh nghiệp với nhau. Ngoài việc kết nối, CSD còn đóng vai trò bảo chứng niềm tin và giám sát việc thực hiện cam kết trong giai đoạn đầu. Sau khi các bên đã thiết lập được sự tin cậy và vận hành ổn định, cơ quan trung gian sẽ rút dần để thị trường tự điều tiết. Tôi cho rằng đây là kinh nghiệm rất đáng nghiên cứu để củng cố khâu trung gian tại Việt Nam.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Xin được hỏi bà Bùi Thu Thủy, Nghị quyết 10 đặt mục tiêu nâng cao tính lan tỏa của khu vực FDI thông qua chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Bộ Tài chính sẽ tham mưu những cơ chế, chính sách gì để hiện thực hóa mục tiêu này?

Bà Bùi Thu Thủy thông tin về các cơ chế, chính sách gì để nâng cao tính lan tỏa của khu vực FDI thông qua chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và liên kết với doanh nghiệp trong nước - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Bà Bùi Thu Thủy thông tin về các cơ chế, chính sách gì để nâng cao tính lan tỏa của khu vực FDI thông qua chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và liên kết với doanh nghiệp trong nước - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Bà Bùi Thu Thủy: Từ góc độ của cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm chính trong việc trình các cấp có thẩm quyền thể chế hóa các tư tưởng, định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW vào các văn bản quy phạm pháp luật, tôi xin được chia sẻ thêm một số nội dung.

Thứ nhất, tôi xin bắt đầu từ câu chuyện về lòng tin, niềm tin mà ông Binu Jacob đã nêu, cũng như câu chuyện về sự kết nối, liên kết giữa Tập đoàn Intel và Công ty Fab 9. Tập đoàn Intel bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 2006. Tuy nhiên, phải đến tận năm 2022 – tức là gần 20 năm sau – Intel mới lựa chọn được doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên trở thành nhà cung ứng trong chuỗi của mình, đó là Công ty Fab 9 tại tỉnh Bình Dương.

Do đó, bài học đặt ra ở đây là chúng ta cần xem xét lại làm thế nào để nâng cao tính lan tỏa và tạo dựng được độ tin cậy để các bên có thể đồng hành cùng nhau. Tôi rất đồng tình với ý kiến của ông Phan Đức Hiếu, nếu chúng ta tiếp tục để thị trường tự vận hành theo cách cũ, các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước vẫn có thể hợp tác như trường hợp của Intel và Fab 9, nhưng khoảng thời gian 20 năm là quá dài. Nền kinh tế Việt Nam không thể chờ đợi lâu như vậy để chuyển mình và nâng cao nội lực phát triển.

Trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập sâu rộng và tham gia nhiều cam kết quốc tế, Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng đã khẳng định rõ ràng nguyên tắc: Chúng ta không can thiệp bằng biện pháp hành chính theo hướng đặt ra các quy định cứng nhắc về tỉ lệ nội địa hóa, hay bắt buộc các doanh nghiệp FDI khi vào Việt Nam phải sử dụng nhà cung ứng trong nước hoặc buộc phải chuyển giao công nghệ. Trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng các biện pháp hành chính mang tính áp đặt như vậy là không phù hợp.

Theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW, trong thời gian tới, Bộ Tài chính đang tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan để chuẩn bị trình Quốc hội thể chế hóa các tư tưởng, định hướng chính sách này vào Luật Đầu tư cùng các giải pháp đồng bộ như ông Phan Đức Hiếu đã đề xuất. Theo đó, Nhà nước sẽ tập trung khuyến khích các doanh nghiệp FDI, nhưng các giải pháp khuyến khích sẽ được thiết kế mạnh mẽ hơn so với giai đoạn trước. Cụ thể, chúng ta sẽ áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, hỗ trợ trực tiếp bằng ngân sách, ưu đãi đối với các khoản chi phí mà doanh nghiệp FDI đã bỏ ra (như chi phí nghiên cứu và phát triển - R&D), cũng như các chi phí do doanh nghiệp FDI chi trả để đào tạo cho các doanh nghiệp trong nước.

Trên thực tế, khi các cơ quan nhà nước triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực để đạt chuẩn, cách thức thực hiện đôi khi chưa bám sát hoặc chưa đáp ứng đúng yêu cầu thực tế của các doanh nghiệp FDI. Dù chúng ta đã tổ chức nhiều khóa đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng sau khi hoàn thành đào tạo, doanh nghiệp FDI vẫn chưa thể sử dụng được. Do đó, công tác đào tạo bắt buộc phải có sự phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp FDI để đào tạo trực tiếp theo chuẩn mực và nhu cầu thực tế của chính họ.

Đây chính là phương hướng triển khai trong thời gian tới: Chúng tôi sẽ đề xuất cơ chế khuyến khích chính các doanh nghiệp FDI đứng ra đào tạo các doanh nghiệp Việt Nam nằm trong chuỗi cung ứng do họ lựa chọn. Khi đó, Nhà nước sẽ ban hành các chính sách kích thích, hỗ trợ, cụ thể là hỗ trợ lại một phần hoặc toàn bộ chi phí đào tạo. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp FDI bỏ ra 10 tỷ đồng cho công tác đào tạo, Nhà nước có thể hỗ trợ lại một phần khoảng 30-50%, hoặc quy định cơ chế cho phép tính khoản chi phí này vào ưu đãi khấu trừ thuế, hoặc áp dụng các hình thức bù đắp phù hợp khác nhằm hoàn trả kinh phí mà doanh nghiệp FDI đã đầu tư hỗ trợ doanh nghiệp nội địa có cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị.

Đây là những giải pháp chính sách rất cụ thể mà chúng tôi sẽ kiến nghị Quốc hội thể chế hóa vào các luật có liên quan và sẽ trình trong thời gian sớm nhất. Dự kiến các nội dung này sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp tháng 10 tới.

Tất nhiên, các giải pháp không thể chỉ xuất phát từ một phía doanh nghiệp FDI. Đối với các doanh nghiệp trong nước, chúng ta cũng phải triển khai đồng bộ Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời thay đổi phương thức hỗ trợ doanh nghiệp nội địa. Việc hỗ trợ phải đảm bảo đúng và trúng nhu cầu thực tế nhằm tạo sự kết nối hiệu quả với các doanh nghiệp FDI, tránh tình trạng hỗ trợ dàn trải, kém hiệu quả. Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW và triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để đảm bảo hệ thống chính sách được ban hành và thực thi một cách hoàn toàn đồng bộ.

Bên cạnh đó, tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông Lê Quang Hòa về việc Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đề ra giải pháp rất mạnh mẽ nhằm đổi mới căn bản hoạt động xúc tiến đầu tư. Trong đó, vai trò của Trung ương là đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng bản đồ thu hút đầu tư quốc gia. Điều này có nghĩa là không thể áp dụng một chính sách thu hút đầu tư giống nhau cho mọi địa bàn, mà phải thực hiện phân vùng hợp lý. Đối với các vùng kinh tế trọng điểm, ưu tiên hàng đầu là tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, các dự án thực sự phù hợp với định hướng phát triển. Đối với những dự án chưa thực sự phù hợp với vùng kinh tế trọng điểm, cần có cơ chế điều phối chuyển hướng ra các vùng phụ cận, vùng ven. Việc xác định rõ vùng kinh tế trọng điểm ưu tiên loại hình dự án nào, vùng phụ cận thu hút dự án ra sao và các vùng còn lại triển khai thế nào sẽ giúp tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương, đồng thời tạo cơ hội cho các địa phương ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện khó khăn có thể tiếp cận được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đó là những định hướng then chốt mà chúng tôi đang tính toán để thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW trong thời gian tới, bao gồm cả nội dung về liên kết vùng. Chúng tôi rất hy vọng rằng sau kỳ họp Quốc hội tháng 10, khi các cơ chế, thể chế chính thức có hiệu lực thi hành, chúng ta sẽ rút ngắn được khoảng thời gian chờ đợi 20 năm như bài học chuyển giao công nghệ của Intel, qua đó giúp ngày càng có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện diện và phát triển trong chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI toàn cầu."

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Các ý kiến trao đổi của bà Bùi Thu Thủy rất thiết thực và mang lại tín hiệu tích cực, phản ánh sự chuyển biến rõ nét trong tư duy và phản ứng chính sách một cách đúng đắn, sát thực tế. Điển hình như công tác đào tạo, nếu chúng ta gắn kết trực tiếp với các doanh nghiệp FDI thì phương thức thực hiện sẽ hiệu quả và thiết thực hơn nhiều so với việc cơ quan nhà nước tự triển khai mà không nắm bắt chính xác nhu cầu của doanh nghiệp. Về bản chất, đối với các giải pháp hỗ trợ, đúng như ông Jacob đã phân tích, các tập đoàn lớn không đặt ưu tiên hàng đầu vào các ưu đãi ban đầu. Tuy nhiên, nếu xem đây là một công cụ khuyến khích, chúng ta bắt buộc phải hiểu rõ nhà đầu tư thực sự cần gì. Trên cơ sở đó, việc Bộ Tài chính chủ động tiếp thu, tổng hợp để trình Bộ trưởng giải quyết các kiến nghị thiết thực từ phía các địa phương nêu ra tại Tọa đàm là hoàn toàn đúng định hướng.

Cuối cùng, xin được hỏi ông Binu Jacob, nếu gửi một thông điệp tới Chính phủ Việt Nam về môi trường đầu tư trong giai đoạn mới, ông mong muốn điều gì nhất?

Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob: Doanh nghiệp FDI thực sự là những đối tác có cam kết dài hạn và tâm huyết đối với những định hướng, chính sách mà Việt Nam đã, đang và sẽ triển khai - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam Binu Jacob: Doanh nghiệp FDI thực sự là những đối tác có cam kết dài hạn và tâm huyết đối với những định hướng, chính sách mà Việt Nam đã, đang và sẽ triển khai - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ông Binu Jacob: Tôi xin chia sẻ một thông điệp hết sức đơn giản và rõ ràng. Hiện nay, chúng ta thường sử dụng cụm từ "nhà đầu tư nước ngoài", tạo cảm giác về một chủ thể từ bên ngoài vào Việt Nam thực hiện một hoạt động nhất định rồi sẽ rút lui. Do đó, thay vì cách gọi này, chúng ta nên chuyển sang sử dụng các thuật ngữ như "đối tác FDI", "đối tác đầu tư" hoặc "đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài". Chúng tôi thực sự là những đối tác có cam kết dài hạn và tâm huyết đối với những định hướng, chính sách mà Việt Nam đã, đang và sẽ triển khai. Những định hướng này mang lại lợi ích thiết thực cho Việt Nam, cho các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, cũng như đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của đất nước và nền kinh tế Việt Nam.

Vì vậy, việc chuyển đổi tư duy từ "nhà đầu tư" sang "đối tác đầu tư" là rất cần thiết. Khi xác lập mối quan hệ đối tác, điều đó tương tự như việc các bên cùng ký kết một giao ước hay một hợp đồng chính thức, trong đó xác định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm và vai trò của từng chủ thể.

Sự chuyển dịch trong thuật ngữ và phương thức tiếp cận này đóng vai trò như một cam kết chiến lược. Nhờ đó, cộng đồng nhà đầu tư sẽ gia tăng niềm tin và sự tự tin khi đến Việt Nam đầu tư dài hạn, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển giao kiến thức, công nghệ, cũng như nâng cao năng lực quản trị. Chúng tôi cũng kỳ vọng Chính phủ Việt Nam tiếp tục có những hành động quyết liệt, trọng tâm là tăng cường đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở; ngược lại, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chủ động triển khai các cam kết đầu tư cụ thể. Qua đó, hai bên sẽ trở thành những đối tác chiến lược thực sự của nhau.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng: Đây là một thông điệp rất rõ ràng và giàu ý nghĩa. Việc chuyển đổi thuật ngữ từ "các nhà đầu tư nước ngoài" thành "các đối tác đầu tư nước ngoài" khẳng định tinh thần hợp tác đồng hành, cùng hướng tới tương lai và phát triển bền vững.

Để kết thúc buổi tọa đàm hôm nay, tôi xin tổng hợp một số nội dung trọng tâm dựa trên ý kiến trao đổi của ông Binu Jacob:

Thứ nhất, để thúc đẩy, thu hút và gắn kết hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài, điều kiện tiên quyết là phải có định hướng chiến lược rõ ràng. Định hướng này đã được thể hiện rất rõ nét trong Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Công tác thông tin, truyền thông của Chính phủ, đặc biệt là vai trò của Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ đã và đang đi đúng hướng, góp phần làm sáng tỏ tinh thần cốt lõi của Nghị quyết. Việc truyền thông công khai, minh bạch không chỉ giúp các cơ quan trong nước nắm vững chủ trương mà còn giúp cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài nhận thức rõ Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với chiến lược thu hút đầu tư nhất quán và minh bạch.

Thứ hai, cùng với sự gia tăng của dòng vốn đầu tư nước ngoài, tính dự báo được của hệ thống chính sách đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Để chính sách có tính dự báo cao, các nguyên tắc nền tảng phải được giữ vững ổn định, không thay đổi. Dù phương thức triển khai hoặc các quy định cụ thể có thể điều chỉnh theo thực tiễn, những nguyên tắc cốt lõi như "bảo đảm quyền tài sản" phải luôn được cam kết nhất quán. Việt Nam khẳng định với cộng đồng quốc tế việc kiên định duy trì các nguyên tắc cơ bản của nhà nước pháp quyền, các chuẩn mực quản trị hiện đại và sự tôn trọng đối với các đối tác đầu tư.

Qua trao đổi hôm nay có thể thấy, thành công của Nghị quyết 10 không phụ thuộc vào một cơ quan hay một cấp chính quyền. Đó là kết quả của sự đồng hành giữa Nhà nước kiến tạo, địa phương năng động, doanh nghiệp FDI tiên phong và doanh nghiệp Việt Nam không ngừng nâng cao năng lực. Có lẽ điều đọng lại sâu sắc nhất là: Nghị quyết 10 không đơn thuần là một nghị quyết về đầu tư nước ngoài. Đó là một bước chuyển trong tư duy phát triển quốc gia.

Trong giai đoạn trước, FDI được xem chủ yếu là nguồn vốn bổ sung cho tăng trưởng. Trong giai đoạn phát triển mới, FDI được kỳ vọng trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng các chuỗi giá trị có sự tham gia ngày càng sâu của doanh nghiệp Việt Nam.

Vì vậy, thành công của Nghị quyết 10 sẽ không chỉ được đo bằng số vốn đầu tư thu hút được, mà bằng số công nghệ lõi được làm chủ, số trung tâm nghiên cứu được hình thành, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và chất lượng tăng trưởng mà nền kinh tế đạt được.

Đó cũng chính là tinh thần chỉ đạo xuyên suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng./. 

Nguồn Chính Phủ: https://baochinhphu.vn/cap-nhat-toa-dam-nghi-quyet-10-phat-trien-he-sinh-thai-fdi-chat-luong-cao-102260807131350837.htm