TP HCM có thể hút 10 - 30 tỷ USD mỗi năm qua Trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm Tài chính quốc tế có thể đáp ứng khoảng 3-10% tổng nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030. Tuy nhiên, để phát huy vai trò này, Trung tâm phải trở thành cửa ngõ đưa dòng vốn quốc tế vào sản xuất, hạ tầng, công nghệ và chuyển đổi xanh, thay vì chỉ là nơi đăng ký hoạt động của các định chế tài chính.
Chia sẻ tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức sáng 23/7, PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Đại học Kinh tế TP HCM cho biết, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC) có thể hướng tới huy động khoảng 10 - 30 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030.
Quy mô này tương đương khoảng 3-10% tổng nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, Trung tâm phải trở thành cửa ngõ đưa vốn quốc tế vào nền kinh tế thực, thay vì chỉ là nơi đăng ký hoạt động của các định chế tài chính hoặc cung cấp những chính sách ưu đãi.

PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Đại học Kinh tế TP.HCM. Ảnh: BCT.
Theo ông Huân, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030 đặt ra nhu cầu vốn đầu tư rất lớn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động trong giai đoạn này ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài ngân sách đóng vai trò chủ yếu.
Trong bối cảnh hệ thống tài chính Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, Trung tâm Tài chính quốc tế có thể mở thêm một kênh huy động vốn trung và dài hạn, bổ sung cho thị trường chứng khoán, trái phiếu và các định chế đầu tư trong nước.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là huy động được thêm bao nhiêu vốn, mà còn nằm ở khả năng chuyển hóa vốn thành năng lực sản xuất, công nghệ và hạ tầng.
"Điểm nghẽn không chỉ nằm ở quy mô vốn, mà còn ở khả năng đưa vốn vào những ngành có năng suất biên cao", PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân nhận định.
Theo ông, các lĩnh vực cần được ưu tiên gồm hạ tầng, logistics, năng lượng, công nghệ, đô thị, dữ liệu và chuyển đổi xanh. Trung tâm phải tham gia vào quá trình cấu trúc giao dịch, định giá rủi ro, chuẩn hóa hồ sơ và kết nối các dự án trong nước với nhà đầu tư quốc tế.
Việt Nam có lợi thế khác biệt là một nền kinh tế thực đang tăng trưởng nhanh, với nhu cầu đầu tư lớn vào sản xuất, hạ tầng, năng lượng và công nghệ. Nếu kết nối được hoạt động quản lý tài sản với nhu cầu vốn của doanh nghiệp và các dự án trong nước, Việt Nam có thể tạo ra nguồn “hàng hóa đầu tư” hấp dẫn đối với các quỹ quốc tế.
PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng TP HCM không nên đặt mục tiêu cạnh tranh trực tiếp với Singapore, Hồng Kông hay London về quy mô và thanh khoản trong giai đoạn đầu.
Khoảng cách giữa TP HCM với các trung tâm tài chính đã phát triển về chiều sâu thị trường, mức độ đa dạng sản phẩm, nguồn nhân lực, dịch vụ hỗ trợ và khả năng luân chuyển vốn vẫn còn lớn. Lợi thế của người đi sau là có thể lựa chọn các phân khúc phù hợp, ứng dụng công nghệ ngay từ đầu và tránh sao chép mô hình truyền thống.
Về chiến lược sản phẩm, TP.HCM có thể ưu tiên quản lý tài sản và quỹ đầu tư, trái phiếu quốc tế, giao dịch hàng hóa và sản phẩm phái sinh, công nghệ tài chính, tài chính xanh và đổi mới sáng tạo.
Hai thị trường ngách được ông Huân đặc biệt lưu ý là tài chính hàng hải và tài chính hàng không.
Khu vực phía Nam có hệ thống cảng biển lớn như Cái Mép - Thị Vải và dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ. Tuy nhiên, nhiều dịch vụ tài chính phục vụ vận tải biển của doanh nghiệp Việt Nam, như tài trợ tàu, bảo hiểm, thanh toán và quản trị rủi ro, vẫn được thực hiện tại nước ngoài, chủ yếu ở Singapore.
Đây là khoảng trống TP HCM có thể khai thác bằng cách kết nối doanh nghiệp cảng biển, logistics, hãng tàu, ngân hàng, bảo hiểm và nhà đầu tư, từng bước hình thành hệ sinh thái tài chính hàng hải có giá trị gia tăng cao.
Trong lĩnh vực hàng không, Trung tâm có thể phát triển các hoạt động tài trợ mua và thuê máy bay, bảo hiểm, quản lý tài sản hàng không, phát hành trái phiếu và các sản phẩm tài chính phục vụ doanh nghiệp trong ngành.
Tài chính xanh cũng cần trở thành một trụ cột khi Việt Nam cần nguồn vốn lớn cho chuyển đổi năng lượng, hạ tầng xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Các sản phẩm có thể phát triển gồm trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng, tài chính carbon và những công cụ chia sẻ rủi ro cho dự án chuyển đổi.
Theo PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Việt Nam không hẳn thiếu nhà đầu tư mà đang thiếu những dự án đủ hấp dẫn và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Một dự án muốn huy động được vốn phải có cấu trúc tài chính rõ ràng, dòng tiền có thể dự báo, cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý, hồ sơ minh bạch và năng lực báo cáo theo chuẩn quốc tế. Vì vậy, Trung tâm cần xây dựng danh mục dự án có khả năng đầu tư, đồng thời hỗ trợ cấu trúc giao dịch, định giá rủi ro và kết nối với những nhà đầu tư có khẩu vị phù hợp.
Bên cạnh sản phẩm, chất lượng thể chế, cơ chế giải quyết tranh chấp và năng lực thực thi sẽ quyết định niềm tin của dòng vốn quốc tế. Nhà đầu tư cần một hệ thống tài phán minh bạch, có khả năng sử dụng tiếng Anh, tham chiếu thông lệ quốc tế và bảo đảm các phán quyết được thi hành.
"Trung tâm Tài chính quốc tế phải là nơi dòng vốn quốc tế được cấu trúc, định giá, bảo vệ và chuyển hóa thành năng lực sản xuất của Việt Nam và khu vực", ông Huân nhấn mạnh.
Theo ông, TP HCM cần trở thành một "hệ điều hành của dòng vốn", gắn với nền kinh tế thực và các lĩnh vực Việt Nam có lợi thế, thay vì trở thành phiên bản thu nhỏ của một trung tâm tài chính đã trưởng thành.
Cũng theo vị này, hiện VIFC-HCMC đang trong giai đoạn chuẩn bị đi vào hoạt động. "Chúng tôi đang chờ Hội đồng Điều hành thông qua quy chế hoạt động và kỳ vọng Trung tâm có thể chính thức vận hành ngay trong tháng này", ông Huân nói.

Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM. Ảnh: VIFC-HCMC.
Khung pháp lý cho Trung tâm đã từng bước được hình thành với nghị quyết và 8 nghị định liên quan. Tuy nhiên, để triển khai trong thực tế, vẫn cần thêm các thông tư của bộ, ngành và văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành các nghị định.
Trung tâm đang phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan để hoàn thiện các quy định cụ thể, chẳng hạn như điều kiện, thủ tục thành lập quỹ đầu tư, các định chế quản lý quỹ, ngân hàng và những tổ chức tài chính khác hoạt động trong Trung tâm.
Về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, khung pháp lý áp dụng tại TP HCM và Đà Nẵng đã cơ bản được hoàn thiện và đang được lấy ý kiến các bộ, ngành. Sau khi quy chế được ban hành và có sự thống nhất của các cơ quan liên quan, Trung tâm Tài chính quốc tế tại hai thành phố sẽ triển khai cơ chế sandbox để thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ và mô hình tài chính mới.
"Quan điểm của chúng tôi là phải thận trọng trong giai đoạn đầu. Đây là mô hình mới nên việc cấp phép cho các định chế tài chính tham gia cần được thực hiện có chọn lọc, trước mắt ưu tiên các tổ chức lớn, có uy tín trên thế giới và tại Việt Nam.
Chúng ta cần tránh cấp phép tràn lan vì có thể gây khó khăn cho công tác quản lý về sau. Sau khi các định chế đi vào hoạt động, nếu phát sinh bất cập, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục đánh giá và điều chỉnh cơ chế cho phù hợp", chuyên gia nói thêm.













