TP.HCM làm gì để cạnh tranh với các đô thị biển Thâm Quyến, Singapore?

TP.HCM cần thí điểm khu thương mại tự do thế hệ mới, thay đổi tư duy để cạnh tranh dài hạn với các siêu đô thị biển Singapore, Thượng Hải, Thâm Quyến, Port Klang, Laem Chabang...

Trong tầm nhìn 100 năm, TP.HCM không nên xem kinh tế biển là một ngành kinh tế riêng lẻ, mà phải xác định biển là không gian phát triển chiến lược, là “mặt tiền tăng trưởng” mới của siêu đô thị phía Nam. Do đó, TP.HCM cần chuyển từ tư duy “có cảng biển” sang tư duy “kiến tạo hệ sinh thái kinh tế biển toàn cầu”.

TP.HCM cần xác định biển là “mặt tiền phát triển”

Về lợi thế, sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ), TP.HCM sở hữu một cấu trúc phát triển mà rất ít đô thị biển nào ở Đông Nam Á có được.

Khi so sánh với Singapore mạnh về cảng biển và dịch vụ tài chính nhưng hạn chế về không gian công nghiệp, Bangkok mạnh về công nghiệp chế tạo nhưng không có hệ thống cảng nước sâu quy mô lớn ngay trong vùng đô thị, thì TP.HCM có lợi thế hơn hẳn.

Hiện, TP.HCM có đầy đủ 4 yếu tố chiến lược gồm trung tâm tài chính, thương mại, trung tâm công nghiệp và sản xuất lớn nhất cả nước. Đồng thời, TP.HCM còn có hệ thống cảng biển nước sâu quốc tế Cái Mép - Thị Vải và mạng lưới logistics kết nối trực tiếp với vùng Đông Nam Bộ.

Đặc biệt, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải là một trong số ít cảng nước sâu của khu vực có khả năng tiếp nhận tàu container trên 200.000 DWT có thể đi thẳng đến châu Âu và Bắc Mỹ mà không phải trung chuyển qua Singapore hoặc Hong Kong (Trung Quốc). Đây là những lợi thế đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng và tìm kiếm các trung tâm sản xuất - logistics mới tại châu Á.

 TP.HCM có đầy đủ 4 yếu tố chiến lược gồm trung tâm tài chính, thương mại, trung tâm công nghiệp và sản xuất lớn nhất cả nước. Ảnh: Quỳnh Danh.

TP.HCM có đầy đủ 4 yếu tố chiến lược gồm trung tâm tài chính, thương mại, trung tâm công nghiệp và sản xuất lớn nhất cả nước. Ảnh: Quỳnh Danh.

Về điểm mạnh, TP.HCM là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước với tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt 8,3%; tổng giá trị GRDP đạt 3,03 triệu tỷ đồng, chiếm 23,5% GDP cả nước; đóng góp gần 27% thu ngân sách và là địa phương thu hút FDI lớn ở Việt Nam trong nhiều năm.

Nếu tính cả không gian kinh tế sau khi mở rộng với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, khu vực này đóng góp trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu và chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động sản xuất công nghiệp của cả nước. Đây có thể xem là lợi thế mà hầu hết địa phương khác ở Việt Nam chưa có được.

Bên cạnh đó, kinh tế biển hiện đại không còn chỉ dựa trên khai thác tài nguyên hoặc dịch vụ cảng biển đơn lẻ mà phụ thuộc vào năng lực quản trị chuỗi cung ứng, tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hiện nay, TP.HCM là nơi tập trung các ngân hàng, trung tâm nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước. Các yếu tố này sẽ tạo tiền đề để phát triển các ngành kinh tế biển như logistics thông minh, thương mại số xuyên biên giới, tài chính hàng hải, bảo hiểm hàng hải, trung tâm dữ liệu và dịch vụ hỗ trợ chuỗi cung ứng toàn cầu.

Sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM sở hữu một cấu trúc phát triển mà rất ít đô thị biển nào ở Đông Nam Á có được

PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách, Đại học Quốc gia TP.HCM

Tuy nhiên, TP.HCM cũng tồn tại những điểm yếu nhất định, trong đó điểm yếu lớn nhất là các lợi thế trên vẫn chưa được tích hợp thành một chiến lược phát triển biển thống nhất. Trong những năm qua, việc quy hoạch cảng biển, logistics, công nghiệp, đô thị, du lịch và bảo tồn sinh thái vẫn được quản lý theo từng ngành và địa giới hành chính, do đó dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy phát triển”.

Ví dụ điển hình là cụm cảng Cái Mép - Thị Vải nằm trong nhóm cảng container có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực nhưng tỷ lệ hàng trung chuyển quốc tế vẫn còn thấp hơn nhiều so với Singapore. Nguyên nhân chính không phải do năng lực cảng mà do hệ thống logistics, trung tâm phân phối hàng hóa, dịch vụ tài chính và thương mại quốc tế chưa phát triển tương xứng.

Hiện, chi phí logistics tại Việt Nam khoảng 16-17% GDP, cao hơn đáng kể so với mức 8-10% tại các quốc gia phát triển. Điều này cho thấy giá trị gia tăng của ngành logistics vẫn còn hạn chế và chưa trở thành một ngành dịch vụ mũi nhọn thực sự.

Ngoài ra, kinh tế biển công nghệ cao gần như vẫn đang ở giai đoạn khởi đầu. Các lĩnh vực như năng lượng gió ngoài khơi, trung tâm dữ liệu ven biển, công nghiệp sinh học biển... chưa hình thành quy mô đủ lớn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo giá trị kinh tế đại dương toàn cầu có thể đạt khoảng 3.000 tỷ USD vào năm 2030 và tăng mạnh trong nửa sau thế kỷ XXI với động lực chính đến từ các ngành công nghệ biển mới thay vì khai thác tài nguyên truyền thống. Do đó, nếu không nhanh chóng chuyển đổi mô hình phát triển, TP.HCM có nguy cơ bỏ lỡ cơ hội tham gia vào những chuỗi giá trị biển có giá trị gia tăng cao nhất.

Về cơ hội, bối cảnh quốc tế đang mở ra rất nhiều cơ hội chiến lược hiếm có cho TP.HCM. Xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng sau đại dịch Covid-19, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và chiến lược "Trung Quốc +n" khiến nhiều công ty đa quốc gia tìm kiếm các địa điểm sản xuất và logistics mới tại Đông Nam Á. Sự tham gia của Việt Nam vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP đang tạo điều kiện để hàng hóa xuất khẩu từ vùng Đông Nam Bộ đến các thị trường lớn.

Đồng thời, xu hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tín chỉ carbon, năng lượng tái tạo ngoài khơi và cảng biển xanh sẽ tạo ra những ngành công nghiệp hoàn toàn mới. Đơn cử, tiềm năng điện gió ngoài khơi của vùng biển phía Nam được đánh giá thuộc nhóm lớn nhất Đông Nam Á. Đây có thể trở thành một động lực phát triển kinh tế biển mới trong nhiều năm tới.

Tuy nhiên, TP.HCM cũng đang đối diện với những thách thức rất lớn. TP.HCM không chỉ cạnh tranh với các địa phương khác trong nước mà còn cạnh tranh trực tiếp với những trung tâm logistics và cảng biển hàng đầu châu Á.

Cụ thể, Singapore có năng lực xử lý hơn 39 triệu TEUs mỗi năm và là trung tâm trung chuyển container lớn nhất thế giới. Port Klang của Malaysia và Laem Chabang của Thái Lan cũng đang được đầu tư mạnh để trở thành các mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong khi đó, Trung Quốc đang phát triển hàng loạt siêu đô thị biển như Thượng Hải, Thâm Quyến, Thiên Tân với sự hỗ trợ rất lớn về công nghệ, tài chính và thể chế. Do đó, nếu TP.HCM chỉ dừng lại ở vai trò cảng biển và sản xuất truyền thống thì rất khó tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn.

...đòi hỏi sự tích hợp giữa quy hoạch đô thị, quy hoạch cảng biển, quy hoạch giao thông, quy hoạch công nghiệp và quy hoạch tài nguyên biển trong một cấu trúc thống nhất

PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách, Đại học Quốc gia TP.HCM

Như vậy, TP.HCM nên thay đổi mạnh mẽ về tư duy phát triển. Trước đây, nếu biển được xem là vùng ven của đô thị thì hiện nay cần xác định biển là “mặt tiền phát triển”. Việc quy hoạch không gian đô thị phải chuyển từ mô hình hướng nội sang mô hình hướng biển. Đồng thời, TP.HCM cần chuyển từ tư duy phát triển địa giới hành chính sang tư duy phát triển vùng và chuỗi giá trị toàn cầu.

Do đó, chính quyền thành phố không nên chỉ đặt mục tiêu trở thành trung tâm logistics của Việt Nam mà cần hướng tới vị thế trung tâm logistics, thương mại và dịch vụ biển hàng đầu Đông Nam Á. Điều này đòi hỏi sự tích hợp giữa quy hoạch đô thị, quy hoạch cảng biển, quy hoạch giao thông, quy hoạch công nghiệp và quy hoạch tài nguyên biển trong một cấu trúc thống nhất.

Cần những đột phá đủ lớn

Giai đoạn 2026-2035, TP.HCM cần có những đột phá đủ lớn để tạo nền tảng cho tầm nhìn 100 năm. Trước hết là xây dựng cụm logistics và cảng biển quốc tế tích hợp theo mô hình cảng biển - sân bay - khu thương mại tự do. Mô hình này sẽ giúp kết nối giữa hệ thống cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế Long Thành và mạng lưới logistics vùng. Đây không chỉ là hạ tầng vận tải mà còn phải là trung tâm phân phối, tài chính thương mại, bảo hiểm và dịch vụ số phục vụ chuỗi cung ứng toàn cầu.

Do đó, TP.HCM cần thí điểm khu thương mại tự do thế hệ mới với cơ chế quản trị đặc biệt, thủ tục hải quan thông minh, chính sách thuế cạnh tranh và môi trường đầu tư ngang tầm các trung tâm quốc tế. Nếu thực hiện thành công, đây có thể trở thành động lực tăng trưởng mới tương tự vai trò của Thâm Quyến đối với Trung Quốc hoặc Jebel Ali đối với UAE.

Đồng thời, TP.HCM cũng cần phát triển du lịch biển và công nghiệp văn hóa như một trụ cột kinh tế dịch vụ mới. Lợi thế của TP.HCM không nằm ở du lịch nghỉ dưỡng truyền thống mà ở khả năng kết hợp giữa biển, văn hóa, lịch sử, thương mại, công nghệ và giải trí hiện đại.

Cụ thể, khu vực Cần Giờ và vùng ven biển có thể được quy hoạch thành trung tâm du lịch sinh thái biển, kinh tế đêm, thể thao biển, du lịch hội nghị quốc tế, công nghiệp sáng tạo và các sự kiện văn hóa. Mục tiêu của việc này không chỉ là tăng lượng khách mà còn phải nâng cao giá trị chi tiêu và thời gian lưu trú, qua đó hình thành một hệ sinh thái dịch vụ biển có giá trị gia tăng cao.

 "Ốc đảo" Cần Giờ đã chuyển mình mạnh mẽ. Ảnh: Quỳnh Danh.

"Ốc đảo" Cần Giờ đã chuyển mình mạnh mẽ. Ảnh: Quỳnh Danh.

Trong dài hạn, để hiện thực hóa tầm nhìn 100 năm, Luật Đô thị đặc biệt cần trao quyền tự chủ đủ mạnh cho TP.HCM để tương xứng với vai trò đầu tàu cả nước. Trước hết, cần phân quyền về quy hoạch và quản lý không gian biển cho TP.HCM. Việc này sẽ giúp TP.HCM chủ động quyết định các dự án chiến lược liên quan đến cảng biển, logistics, khu thương mại tự do, đô thị ven biển và hạ tầng kết nối mà không phải phê duyệt qua nhiều cấp.

Đồng thời, Luật cần phân quyền tài chính cho TP.HCM. Cụ thể, TP.HCM nên được giữ lại tỷ lệ điều tiết ngân sách cao hơn hiện nay. Song song, TP.HCM có thể phát hành trái phiếu đô thị, hình thành quỹ đầu tư phát triển biển và áp dụng các cơ chế tài chính đặc thù để huy động nguồn lực xã hội.

Trong tầm nhìn 100 năm, mục tiêu của TP.HCM không chỉ là phát triển thêm một ngành kinh tế biển, mà là kiến tạo một cực tăng trưởng biển mang tầm khu vực châu Á.

PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách, Đại học Quốc gia TP.HCM

Bên cạnh đó, TP.HCM cũng cần được trao quyền chủ động trong thu hút đầu tư nước ngoài. TP.HCM có thể tự lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và thiết kế các chính sách cạnh tranh toàn cầu đối với các ngành kinh tế biển mũi nhọn.

Cuối cùng, Luật cần cho phép TP.HCM xây dựng mô hình quản trị vùng biển, hệ thống cảng và logistics theo cơ chế liên thông với các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ. Trong tương lai, việc cạnh tranh sẽ không còn diễn ra giữa các địa phương riêng lẻ mà là cạnh tranh giữa các siêu vùng đô thị và các cụm kinh tế biển quốc tế.

Như vậy, nếu nhìn trong tầm nhìn 100 năm, mục tiêu của TP.HCM không chỉ là phát triển thêm một ngành kinh tế biển, mà là kiến tạo một cực tăng trưởng biển mang tầm khu vực châu Á. Ở đó, cảng biển nước sâu, logistics thông minh, tài chính quốc tế, công nghiệp công nghệ cao, du lịch biển và đổi mới sáng tạo phải được tích hợp thành một hệ sinh thái phát triển thống nhất. Khi đó, biển không còn là vùng ven của đô thị, mà trở thành mặt tiền phát triển, tạo động lực thịnh vượng lâu dài cho TP.HCM, vùng Nam Bộ và cả Việt Nam.

PGS.TS Đỗ Phú Trần Tình

Thảo Liên ghi

Nguồn Znews: https://znews.vn/tphcm-lam-gi-de-canh-tranh-voi-cac-do-thi-bien-tham-quyen-singapore-post1660136.html