TP HCM: Trao đổi kinh nghiệm quy trình lập pháp của Cộng hòa Liên bang Đức, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật

Ngày 28/9, tại TP HCM, Bộ Tư pháp phối hợp với Viện KAS tổ chức Hội thảo kết hợp tập huấn “Quy trình lập pháp của CHLB Đức và một số kinh nghiệm đối với Việt Nam”, nhằm trao đổi kinh nghiệm về xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác pháp chế.

Đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, chú trọng vai trò của pháp chế

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (CTXDVBQPPL), Bộ Tư pháp cho biết việc lựa chọn chủ đề Hội thảo xuất phát từ yêu cầu tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng chính sách và văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Việt Nam.

Theo ông Hoàn, việc trao đổi, tham khảo kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và vận hành quy trình lập pháp là cần thiết, nhất là kinh nghiệm của những quốc gia có truyền thống lập pháp như CHLB Đức. Những kinh nghiệm được chia sẻ tại Hội thảo sẽ góp thêm góc nhìn và gợi mở thiết thực cho quá trình tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng PL ở Việt Nam.

Ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ CTXDVBQPPL, Bộ Tư pháp phát biểu khai mạc.

Ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ CTXDVBQPPL, Bộ Tư pháp phát biểu khai mạc.

Trình bày báo cáo công tác pháp chế 6 tháng đầu năm 2026 và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm, bà Đỗ Thị Thanh Hương, Phó Vụ trưởng Vụ CTXDVBQPPL, Bộ Tư pháp, cho biết công tác quản lý nhà nước về pháp chế được gắn với đơn vị thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng PL, phù hợp với yêu cầu pháp chế gắn với cả xây dựng và tổ chức thi hành PL.

Theo bà Hương, đến cuối năm 2025, cả nước có hơn 5.084 người làm công tác pháp chế và 1.453 tổ chức pháp chế, trong đó có 1.878 cán bộ chuyên trách và 3.206 cán bộ kiêm nhiệm. Đội ngũ pháp chế viên gồm 114 pháp chế viên, 109 pháp chế viên chính và 35 pháp chế viên cao cấp. Việc chuyển sang ngạch pháp chế viên tại địa phương còn gặp khó khăn do quá trình sắp xếp, tổ chức lại bộ máy và xây dựng vị trí việc làm.

Bà Hương cũng cho biết, khối lượng công việc xây dựng và hoàn thiện PL trong năm 2026 rất lớn. Trong 6 tháng đầu năm, Bộ Tư pháp đã tham gia điều chỉnh chương trình lập pháp với 30 luật, Nghị quyết; thẩm định hơn 360 hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo VBQPPL từ quyết định của Thủ tướng trở lên. 

“Công tác xây dựng pháp luật chính là hơi thở của cuộc sống, do đó người làm công tác pháp chế phải tham mưu, phối hợp rất nhiều với các cơ quan, đơn vị chuyên môn để hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật”, bà Hương nhấn mạnh. 

Theo bà Hương, bên cạnh khối lượng công việc lớn, công tác pháp chế còn gặp những khó khăn về nguồn lực, kỹ thuật trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Các sản phẩm truyền thông, phổ biến PL trên môi trường số chưa đồng đều.

Bà Đỗ Thị Thanh Hương, Phó Vụ trưởng Vụ CTXDVBQPPL, Bộ Tư pháp trình bày tại hội thảo. Ảnh: Thu Uyên

Bà Đỗ Thị Thanh Hương, Phó Vụ trưởng Vụ CTXDVBQPPL, Bộ Tư pháp trình bày tại hội thảo. Ảnh: Thu Uyên

TP HCM củng cố pháp chế, xử lý hơn 1.000 văn bản sau sắp xếp

Tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM, cho biết sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và kiện toàn các cơ quan chuyên môn, 15/16 sở, ngành của TP HCM đã thành lập phòng pháp chế, với 125 nhân sự, gồm 84 người chuyên trách và 41 người kiêm nhiệm.

Theo bà Hạnh, TP HCM đặc biệt chú trọng công tác xây dựng PL trong bối cảnh Thành phố được trao nhiều cơ chế, chính sách đặc thù. Năm 2025, Thành phố ban hành 212 VB, trong đó 47% là Nghị quyết của HĐND và 53% là quyết định của UBND, Chủ tịch UBND. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Thành phố ban hành 111 VB.

Đáng chú ý, sau khi Quốc hội thông qua Luật Phát triển đô thị, TP HCM khẩn trương xây dựng các VB triển khai. Chỉ trong chưa đầy một tháng, HĐND Thành phố đã ban hành 25 Nghị quyết liên quan đến việc triển khai luật. Một trong những cách làm được bà Hạnh chia sẻ là các cơ quan tham gia ngay từ đầu trong quá trình xây dựng VB, từ cơ quan chủ trì soạn thảo, Sở Tư pháp thẩm định đến các ban của HĐND thẩm tra, cho ý kiến trong quá trình xây dựng chính sách.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, TP HCM có 1.572 văn bản cần xử lý; đến nay đã xử lý 1.021 văn bản, đạt 65%, còn 551 văn bản, chiếm 35%, chưa xử lý. Theo bà Hạnh, Hải Phòng đã xử lý 100% số VB, là kinh nghiệm để TP HCM tham khảo trong quá trình tiếp tục rà soát, xử lý VB.

Tuy nhiên, công tác pháp chế tại TP HCM vẫn gặp khó khăn về nguồn nhân lực. Trong 125 nhân sự làm công tác pháp chế hiện chỉ có 8 pháp chế viên và 2 pháp chế viên chính. Thành phố cũng chịu áp lực lớn khi khối lượng VB cần ban hành để triển khai các chính sách mới ngày càng tăng.

Từ thực tiễn này, bà Hạnh kiến nghị Bộ Tư pháp tiếp tục hoàn thiện quy định về xây dựng PL; nâng cấp cơ sở dữ liệu, phần mềm quản lý VBQPPL, hướng tới ứng dụng công nghệ và AI trong phát hiện mâu thuẫn, chồng chéo; đồng thời thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho địa phương.

Bà cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia theo từng lĩnh vực để các địa phương có thể tham khảo, kết nối trong quá trình xây dựng chính sách, VB, nhất là đối với những vấn đề pháp lý mới, phức tạp và các chính sách đặc thù.

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM. Ảnh: Thu Uyên

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM. Ảnh: Thu Uyên

Trao đổi về kinh nghiệm của CHLB Đức, ông Harald Hemmer, chuyên gia CHLB Đức, giới thiệu tổng quan về hệ thống lập pháp quốc gia, trong đó nhấn mạnh sự phân định thẩm quyền giữa cấp liên bang, cấp bang và địa phương. 

Theo đó, Hiến pháp (Luật Cơ bản) đóng vai trò nền tảng tối thượng, phân định rạch ròi thẩm quyền giữa các cấp. Các đạo luật liên bang thường điều chỉnh những lĩnh vực cần duy trì sự thống nhất chung, trong khi cấp cơ sở là nơi trực tiếp định hình và triển khai quy định. Điểm sáng trong hệ thống này là cơ chế phối hợp nhịp nhàng thông qua cơ quan thủ hiến - “cầu nối” điều phối vị trí và lợi ích giữa từng bang với chính quyền liên bang, giúp tích hợp kinh nghiệm thực tiễn và đảm bảo tính nhất quán của chính sách.

Về quy trình lập pháp, ông Harald Hemmer cho biết dự luật có thể được khởi xướng từ các bộ chuyên trách, Quốc hội hoặc Hội đồng Liên bang (đại diện các bang). Đáng chú ý, pháp luật Đức phân loại các đạo luật thành hai nhóm: luật yêu cầu sự chấp thuận (nơi Hội đồng Liên bang có quyền phủ quyết nếu đạo luật tác động đến lợi ích, tài chính của bang) và luật không có quyền phủ quyết tuyệt đối. Sự phân định này tạo ra một cơ chế kiểm soát chéo hiệu quả, bảo vệ các địa phương khỏi những gánh nặng bất hợp lý và giảm thiểu xung đột.

Chuyên gia nhấn mạnh, nguyên tắc phân lập quyền lực vững chắc, cùng với vai trò rà soát, phê chuẩn mang tính biểu tượng của Tổng thống, đã tạo nên một khung pháp lý ổn định, liền mạch và minh bạch, giúp quy trình lập pháp của Đức luôn vận hành một cách chặt chẽ và hiệu quả.

Ông Harald Hemmer, chuyên gia CHLB Đức và ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ CTXDVBQPPL, Bộ Tư pháp. Ảnh: Thu Uyên

Ông Harald Hemmer, chuyên gia CHLB Đức và ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ CTXDVBQPPL, Bộ Tư pháp. Ảnh: Thu Uyên

Kết luận Hội thảo, ông Nguyễn Quốc Hoàn đánh giá chương trình đã hoàn thành các nội dung đề ra, tập trung vào nghiệp vụ xây dựng VBQPPLtại Việt Nam và kinh nghiệm của CHLB Đức về tổ chức, vận hành quy trình lập pháp.

Theo ông Hoàn, một nội dung xuyên suốt là mối quan hệ giữa quy trình xây dựng PL và vai trò của những người trực tiếp tham gia vào quy trình đó. Một quy trình khoa học, chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng và tính khả thi của PL, nhưng cần sự phối hợp giữa các cơ quan và sự tham gia thực chất của đội ngũ xây dựng PL, pháp chế.

Từ những nội dung được trao đổi, ông Hoàn đề nghị các tổ chức pháp chế và đội ngũ làm công tác pháp chế tại địa phương chủ động vận dụng nghiệp vụ vào thực tiễn; củng cố tổ chức, bảo đảm nhân lực pháp chế; nâng cao năng lực đội ngũ; đồng thời tăng cường phối hợp giữa pháp chế với các cơ quan chuyên môn trong xây dựng và tổ chức thi hành PL.

Đối với Bộ Tư pháp, ông Hoàn đề nghị Vụ CTXDVBQPPL tiếp thu, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị được nêu tại Hội thảo để tiếp tục nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện quy trình, nghiệp vụ xây dựng VBQPPL và thể chế về công tác xây dựng PL.

Từ phía địa phương, đại diện Phòng Pháp chế Sở Xây dựng TP HCM cũng nêu vướng mắc trong rà soát, hợp nhất và xử lý VB địa phương, nhất là các VB liên quan đến dự án đầu tư công chưa quyết toán, các dự án BOT, BT nhưng vẫn có đối tượng chịu tác động khi VB bị bãi bỏ. Đại diện phòng đề nghị có hướng dẫn để địa phương giải thích rõ căn cứ, phạm vi áp dụng, hạn chế phát sinh thắc mắc.

Trong khi đó, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang kiến nghị nghiên cứu sửa đổi Nghị định 55/2011 và Nghị định 56/2024, tạo cơ sở pháp lý phù hợp với bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và khối lượng nhiệm vụ mới. Theo đó, có thể quy định việc thành lập phòng pháp chế đối với một số ngành có tính chất phức tạp, đa lĩnh vực như nông nghiệp, còn các ngành khác căn cứ tình hình thực tế để tổ chức phù hợp.

Nhã An - Thu Uyên

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/tp-hcm-trao-doi-kinh-nghiem-quy-trinh-lap-phap-cua-cong-hoa-lien-bang-duc-nang-cao-chat-luong-xay-dung-phap-luat.html