TP Hồ Chí Minh gấp rút thực hiện giải pháp xử lý nước thải đô thị
Tại TP Hồ Chí Minh mỗi ngày có gần 2 triệu m³ nước thải phát sinh nhưng mới chỉ khoảng 19,5% được xử lý đạt chuẩn. Nếu không tháo gỡ những 'điểm nghẽn' về thu gom, đầu tư và kết nối hạ tầng, mục tiêu xử lý 40-45% nước thải và thu gom 80% vào năm 2030 sẽ là thách thức không nhỏ.
Theo Sở Xây dựng TP Hồ Chí Minh, trong khoảng 1,97 triệu m³ nước thải mỗi ngày đêm thì thành phố chỉ mới xử lý đạt khoảng 380.000 m³/ngày đêm, tương ứng 19,5%. Tỷ lệ thu gom nước thải cũng mới đạt khoảng 52%, thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu 80% mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đặt ra.
Tại khu vực TP Hồ Chí Minh cũ, mỗi ngày phát sinh khoảng 1,49 triệu m³ nước thải, nhưng tổng công suất vận hành thực tế của các nhà máy xử lý mới đạt khoảng 260.000 m³/ngày đêm, tương đương tỷ lệ xử lý 17,2%. Dù đây là khu vực có hệ thống xử lý lớn nhất với Nhà máy Bình Hưng, Bình Hưng Hòa và Tham Lương - Bến Cát, nhưng mạng lưới thu gom vẫn chưa đồng bộ. Trong hơn 44.700 tuyến đường, mới có khoảng 27.000 tuyến có hệ thống thoát nước, tỷ lệ thu gom nước thải chỉ đạt khoảng 60%.

Nhiều khu vực ở TP Hồ Chí Minh nước thải sinh hoạt thải trực tiếp xuống kênh, rạch.
Tại khu vực Bình Dương cũ, hiện có 4 nhà máy xử lý nước thải tập trung gồm Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An và Tân Uyên 1 cùng 19 trạm xử lý phân tán với tổng công suất thiết kế khoảng 92.800 m³/ngày đêm. Tuy nhiên, lượng nước thải phát sinh khoảng 230.000 m³/ngày đêm, trong khi công suất vận hành thực tế chỉ khoảng 80.000 m³, đưa tỷ lệ xử lý lên khoảng 35,2%. Đáng chú ý, tỷ lệ thu gom nước thải đô thị tại khu vực này chỉ khoảng 26%.
Ở khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, mỗi ngày phát sinh khoảng 250.000 m³ nước thải, nhưng lượng xử lý thực tế khoảng 47.000 m³/ngày đêm, đạt tỷ lệ khoảng 19%. Tỷ lệ thu gom đạt khoảng 40%.
Theo đánh giá của Sở Xây dựng, vấn đề không đơn thuần là thiếu các nhà máy xử lý nước thải mà nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa công trình xử lý và hệ thống thu gom.
Thực tế giai đoạn 2021-2025 cho thấy nhiều công trình xử lý đã được đầu tư nhưng hệ thống cống bao, tuyến thu gom, trạm bơm và mạng lưới đấu nối chưa hoàn thiện hoặc triển khai chậm, khiến nhiều nhà máy không thể vận hành hết công suất thiết kế.
Đây là nguyên nhân dẫn tới tình trạng "nhà máy chờ nước thải", trong khi nước thải sinh hoạt vẫn xả trực tiếp ra sông, kênh, rạch.
Ngoài ra, nhiều dự án còn gặp vướng mắc trong công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, bố trí vốn và phối hợp giữa các đơn vị. Không ít công trình được đầu tư theo từng giai đoạn, thiếu sự liên kết theo lưu vực thoát nước nên hiệu quả khai thác chưa cao.

Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng.
Chính vì vậy, thành phố xác định việc đầu tư các dự án xử lý nước thải từ nay đến năm 2030 phải tuân thủ nguyên tắc xuyên suốt là đầu tư đồng bộ giữa nhà máy xử lý và hệ thống thu gom, tránh tình trạng hoàn thành nhà máy nhưng chưa có đủ nguồn nước thải đưa về xử lý.
Để đạt các mục tiêu đặt ra, Sở Xây dựng đề xuất triển khai 14 dự án xử lý nước thải với tổng mức đầu tư dự kiến 96.540 tỷ đồng.
Trong đó có 2 dự án ODA chuyển tiếp với tổng vốn hơn 12.871 tỷ đồng, 1 dự án đầu tư công hơn 203 tỷ đồng và 11 dự án thực hiện theo hình thức PPP với tổng mức đầu tư hơn 83.465 tỷ đồng.
Qua rà soát, Sở Xây dựng xác định 6 dự án có tính khả thi cao, đủ điều kiện ưu tiên triển khai ngay trong giai đoạn 2026-2030.
Đó là Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc - Thị Nghè, dự án Cải thiện môi trường nước tỉnh Bình Dương, hệ thống thu gom và xử lý nước thải thị trấn Phước Hải (Đất Đỏ), hệ thống thu gom và Nhà máy xử lý nước thải khu vực Tây thành phố, Nhà máy xử lý nước thải Tham Lương - Bến Cát giai đoạn 2, cùng Nhà máy xử lý nước thải Tân Hóa - Lò Gốm.
Theo tính toán của Sở Xây dựng, riêng 6 dự án này sẽ đóng góp khoảng 38,5% vào mục tiêu nâng tỷ lệ xử lý nước thải đô thị.
Nếu hoàn thành đúng tiến độ, tỷ lệ xử lý nước thải của thành phố sẽ tăng từ 19,5% lên khoảng 58%, không chỉ hoàn thành mà còn vượt mục tiêu 40-45% theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2025-2030.

Nước thải được thu gom xử lý tại nhà máy.
Tuy nhiên, lúc này, theo tính toán, tỷ lệ thu gom nước thải của toàn thành phố cũng mới chỉ đạt khoảng 65,8%. Do đó để hoàn thành mục tiêu 80% vào năm 2030, thành phố vẫn phải tiếp tục rà soát, bổ sung hệ thống thu gom trên khoảng 8.794 tuyến đường và hẻm, tương đương khoảng 14,2% chỉ tiêu còn thiếu.
Việc đầu tư này sẽ không thực hiện bằng một chương trình độc lập mà được lồng ghép vào các dự án cải tạo đường giao thông, chỉnh trang đô thị, chống ngập, cải tạo kênh rạch và các dự án hạ tầng kỹ thuật khác nhằm tránh đào đường nhiều lần, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư.
Theo lộ trình, ưu tiên sẽ dành cho những khu vực có mật độ dân cư cao, thường xuyên xảy ra ô nhiễm môi trường hoặc ngập úng và những nơi có khả năng kết nối trực tiếp với hệ thống cống bao, trạm bơm hiện hữu để nhanh chóng phát huy hiệu quả sau đầu tư.
Việc đồng bộ quy hoạch, bố trí vốn, giải phóng mặt bằng, bảo vệ quỹ đất dành cho các nhà máy xử lý nước thải, đồng thời huy động nguồn lực xã hội theo hình thức PPP cũng được xác định là những giải pháp then chốt.












