TP Hồ Chí Minh tái định hình các khu công nghiệp theo hướng phát thải thấp
Sau hợp nhất, hệ thống khu chế xuất, khu công nghiệp của TP Hồ Chí Minh được mở rộng cả về quy mô, năng lực sản xuất và khả năng thu hút đầu tư. Lợi thế này đồng thời đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển năng lượng tái tạo và tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, tiêu chuẩn, dữ liệu để từng bước tiến tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Các khu công nghiệp - khu chế xuất xanh đang được xây dựng mạnh mẽ tại TP Hồ Chí Minh.
Chuyển đổi xanh trở thành yêu cầu cạnh tranh
TP Hồ Chí Minh hiện có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp, với tổng diện tích hơn 49.000 ha. Trong số này, 67 khu đã được thành lập, 58 khu đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%, thu hút hơn 5.300 dự án đầu tư. Quy mô công nghiệp lớn tạo thêm dư địa phát triển sản xuất, hình thành các chuỗi cung ứng liên vùng và nâng cao khả năng thu hút dòng vốn chất lượng cao.
Tuy nhiên, việc tập trung nhiều hoạt động sản xuất cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng năng lượng, nước, nguyên vật liệu và áp lực xử lý chất thải. Bài toán đặt ra cho Thành phố là vừa tiếp tục giữ vai trò đầu tàu công nghiệp, vừa giảm phát thải và đáp ứng những tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao.
Công ty cổ phần Cao-su Phước Hòa (PHR), có trụ sở tại xã Phước Hòa (TP Hồ Chí Minh) đang thúc đẩy phát triển hạ tầng khu công nghiệp theo hướng bền vững. Doanh nghiệp nghiên cứu triển khai mô hình Green Industrial Park và Net Zero Industrial Park, tức khu công nghiệp xanh và khu công nghiệp phát thải ròng bằng “0”.
Mô hình này hướng đến nâng cao hiệu quả trên nhiều phương diện, từ sử dụng năng lượng, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, đến trách nhiệm xã hội và quản trị. PHR đã khảo sát 10 khu vực có tiềm năng phát triển điện mặt trời để phục vụ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, với tổng công suất dự kiến hơn 391MWp.
Ông Lê Thanh Toàn, Phó Trưởng phòng Phát triển và Quản lý khu công nghiệp của PHR, cho biết, việc thúc đẩy mô hình khu công nghiệp xanh sẽ góp phần nâng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải khí nhà kính và hỗ trợ thực hiện mục tiêu Net Zero. Đây cũng là điều kiện để hình thành các khu công nghiệp sinh thái, thu hút dự án chất lượng cao, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Theo các chuyên gia kinh tế, chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với hoạt động sản xuất. Trong thời gian dài, công nghiệp thành phố chủ yếu phát triển theo chiều rộng, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên, tiêu thụ lượng lớn năng lượng và phát sinh mức phát thải cao. Mô hình này không còn phù hợp với những yêu cầu mới về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm môi trường.

Cao su Phước Hòa muốn đầu tư thêm vào hai khu công nghiệp tại Bình Dương cũ.
Thực tế, việc mở rộng không gian phát triển sau hợp nhất càng làm yêu cầu chuyển đổi trở nên cấp thiết. TP Hồ Chí Minh vừa là trung tâm công nghiệp lớn, vừa tập trung nhiều nguồn phát thải khí nhà kính. Nếu không có giải pháp kiểm soát hiệu quả, lợi thế về quy mô có thể trở thành áp lực đối với hạ tầng kỹ thuật, môi trường và mục tiêu phát triển bền vững của thành phố.
Ông Trần Văn Bích, nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu phát triển kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh, cho biết, xét theo cơ cấu giá trị sản phẩm tiêu thụ, nhóm ngành có mức phát thải rất cao chiếm 12,07%; nhóm phát thải cao chiếm 18,71%; phát thải trung bình chiếm 43,02% và phát thải thấp chiếm 26,2%. Cơ cấu này cho thấy, công nghiệp Thành phố đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực khi phần lớn giá trị sản phẩm thuộc nhóm phát thải trung bình và thấp, còn nhóm phát thải rất cao chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ. Dù vậy, tốc độ chuyển đổi cần được đẩy nhanh hơn để đáp ứng những yêu cầu mới của thị trường quốc tế.
Nhiều quốc gia và tập đoàn lớn đang tăng cường áp dụng tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, kiểm kê khí nhà kính và yêu cầu giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Điều đó tạo sức ép trực tiếp lên các doanh nghiệp sản xuất tại khu công nghiệp. Nếu không kịp thời đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và giảm lượng phát thải trên mỗi sản phẩm, doanh nghiệp có nguy cơ đánh mất đơn hàng hoặc bị loại khỏi chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh cho biết, chuyển đổi xanh trước đây được xem là xu hướng nhưng nay đã trở thành yêu cầu thực tế. Thành phố đang đứng trước nhiệm vụ kép là duy trì vai trò đầu tàu tăng trưởng, đồng thời giảm phát thải và tiến tới Net Zero. TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu hoàn thành Net Zero sớm hơn 5 năm so với mục tiêu quốc gia vào năm 2050.
Nhân rộng mô hình Net Zero
TP Hồ Chí Minh đã đạt một số kết quả ban đầu trong chuyển đổi xanh tại các khu công nghiệp. Hoạt động sản xuất từng bước chuyển sang sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, tăng cường kiểm soát phát thải và ứng dụng công nghệ sạch. Một bộ phận doanh nghiệp đã triển khai các giải pháp quản lý năng lượng, xử lý chất thải và cải tiến quy trình sản xuất.
Điểm sáng là chương trình thí điểm chuyển đổi Khu công nghiệp Hiệp Phước sang mô hình khu công nghiệp sinh thái, với sự hỗ trợ của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO). Các giải pháp sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả nguyên liệu và cộng sinh công nghiệp đã giúp doanh nghiệp tham gia cắt giảm gần 23.000 tấn CO₂ mỗi năm, đồng thời tiết kiệm khoảng 66 tỷ đồng chi phí sản xuất.
Tại khu vực mở rộng, một số khu công nghiệp cũng đã xây dựng những mô hình xanh đáng chú ý. VSIP I và VSIP II đạt chứng chỉ khu công nghiệp sinh thái của UNIDO, giảm khoảng 25% năng lượng sử dụng và 30% nước thải. Khu công nghiệp Phú Mỹ giảm khoảng 15% lượng năng lượng tiêu thụ nhờ áp dụng hệ thống quản lý thông minh.
Những kết quả này cho thấy, chuyển đổi xanh không chỉ tạo lợi ích về môi trường mà còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và cải thiện khả năng cạnh tranh. Khi năng lượng, nước và chất thải được quản lý theo chu trình khép kín, phần nguyên liệu dư thừa của doanh nghiệp này có thể trở thành nguồn đầu vào của doanh nghiệp khác, từng bước hình thành mạng lưới cộng sinh công nghiệp.

Các khu công nghiệp mới được hình thành đều phải có tiêu chuẩn sản phẩm phát thải thấp để bảo vệ môi trường.
Theo định hướng trong Đề án Chuyển đổi xanh TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050, đến năm 2030, khoảng 20% khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố sẽ vận hành theo mô hình sinh thái; tỷ lệ này dự kiến tăng lên 30% vào năm 2035. Thành phố cũng đặt mục tiêu toàn bộ khu công nghiệp, cụm công nghiệp được lắp đặt điện mặt trời mái nhà, bảo đảm ít nhất 20% nhu cầu điện đến từ năng lượng tái tạo.
Cùng với đó, Thành phố định hướng tăng tỷ lệ cơ sở áp dụng công nghệ sạch, phát triển cộng sinh công nghiệp, đẩy mạnh tái chế chất thải rắn, tái sử dụng nước và áp dụng các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là cơ sở để từng bước giảm phát thải trong quá trình sản xuất, thay vì chủ yếu tập trung xử lý chất thải ở công đoạn cuối.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi khu công nghiệp theo hướng phát thải thấp đang gặp những khó khăn về nguồn vốn, tiêu chuẩn, dữ liệu và quy mô dự án. Nhiều doanh nghiệp nhận thấy lợi ích của chuyển đổi xanh nhưng nguồn lực đầu tư cho năng lượng tái tạo, công nghệ tiết kiệm năng lượng, hệ thống tuần hoàn nước thải hay kiểm kê phát thải còn hạn chế. Các dự án có quy mô nhỏ, thời gian hoàn vốn dài cũng gặp khó khi tiếp cận nguồn vốn phù hợp.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh cho rằng, việc thiếu bộ tiêu chí thống nhất và dữ liệu đủ độ tin cậy khiến các tổ chức tài chính khó đánh giá hiệu quả môi trường của dự án.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, để khơi thông nguồn vốn cho chuyển đổi xanh, Thành phố cần xây dựng hệ thống tài chính có sự kết nối giữa chính sách, tiêu chuẩn, dữ liệu, công cụ tài chính, cơ chế bảo lãnh và nhà đầu tư. Hệ thống này cũng cần gắn với thị trường đầu ra cho tín chỉ carbon và sản phẩm phát thải thấp, qua đó tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp.
PGS. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh cho rằng, Thành phố nên lựa chọn một số khu công nghiệp có điều kiện phù hợp để thí điểm mô hình tài chính xanh theo từng khu. Các khu được lựa chọn cần đáp ứng yêu cầu về hạ tầng, dữ liệu, cộng đồng doanh nghiệp, nhu cầu chuyển đổi và khả năng phối hợp với các tổ chức tài chính.
Theo ông Nguyễn Hữu Huân, thay vì triển khai đồng loạt, Thành phố cần thí điểm có trọng tâm, xây dựng các chỉ số đo lường và đánh giá rõ hiệu quả kinh tế, môi trường. Khi mô hình chứng minh được hiệu quả và khả năng vận hành, có thể tiếp tục áp dụng tại các khu công nghiệp khác.
Với quy mô công nghiệp lớn sau sắp xếp, TP Hồ Chí Minh có điều kiện phát triển các khu công nghiệp sinh thái, phát thải thấp. Việc tháo gỡ những khó khăn về vốn, tiêu chuẩn, dữ liệu và cơ chế sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong chuyển đổi xanh, đồng thời nâng khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường ngày càng cao trong chuỗi cung ứng và thị trường xuất khẩu.

