TP Hồ Chí Minh tìm động lực tăng trưởng từ hạ tầng
Làn sóng đầu tư hạ tầng cùng các cơ chế đô thị mới mở ra cơ hội tái cấu trúc không gian kinh tế TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, động lực tăng trưởng chỉ được hình thành khi hạ tầng giao thông, hạ tầng số và hạ tầng tài chính được kết nối, tạo giá trị kinh tế thực.
Thời gian qua, TP Hồ Chí Minh liên tiếp triển khai nhiều dự án giao thông, chỉnh trang đô thị, nhà ở xã hội và hạ tầng môi trường với quy mô vốn lớn. Cùng với đó, việc vận hành Trung tâm Tài chính quốc tế và hình thành Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ đang tạo thêm các kênh huy động vốn, mở rộng dòng hàng hóa và không gian phát triển của Thành phố.

Các đại biểu nhấn nút khởi công các công trình, dự án chào mừng 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026). Ảnh: Mạnh Linh
Những chuyển động này không chỉ tác động đến thị trường bất động sản, xây dựng và logistics mà còn đặt ra yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn lực, kiểm soát đầu cơ đất đai, nâng sức hút đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Để hiểu rõ hơn làn sóng đầu tư đang mở ra những cơ hội cụ thể nào, phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam.
Thưa Tiến sĩ, TP Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh đầu tư nhiều công trình giao thông, chỉnh trang đô thị và nhà ở, nhìn từ quy mô, cơ cấu các dự án vừa triển khai, ông đánh giá làn sóng đầu tư này sẽ tác động như thế nào đến không gian kinh tế và mô hình tăng trưởng của Thành phố?
Chào mừng Quốc khánh 2/9, TP Hồ Chí Minh đã khởi công 8 dự án và khánh thành 3 công trình với tổng mức đầu tư hơn 181.412 tỷ đồng, tập trung vào giao thông, môi trường, giáo dục, nhà ở xã hội và chỉnh trang đô thị. Trong đó, các dự án mở rộng Quốc lộ 1, Quốc lộ 13 và hai đoạn thuộc Vành đai 4 có tổng vốn hơn 50.900 tỷ đồng. Thành phố cũng khởi công dự án chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng và Chợ Gà - Gạo với tổng mức đầu tư khoảng 15.674 tỷ đồng.

Tiến sĩ Chu Thanh Tuấn, Phó Chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam. Ảnh: NVCC
Quy mô và cơ cấu của các dự án cho thấy, đầu tư hạ tầng tại TP Hồ Chí Minh không chỉ nhằm giải quyết những điểm nghẽn trước mắt mà còn hướng tới tổ chức lại không gian phát triển. Theo tôi, tác động lớn nhất của làn sóng đầu tư này không nằm ở việc giá bất động sản sẽ tăng bao nhiêu, mà ở khả năng hạ tầng mới làm thay đổi bản đồ kinh tế và phân bổ lại giá trị đất đai của Thành phố trong 10 - 20 năm tới.
Nếu hệ thống metro, đường sắt, quốc lộ và đường vành đai được kết nối đồng bộ, TP Hồ Chí Minh có điều kiện chuyển mạnh hơn từ mô hình tập trung vào một lõi sang đô thị đa trung tâm. Người dân có thể sống xa khu vực trung tâm truyền thống nhưng vẫn tiếp cận nơi làm việc, trường học và các dịch vụ thiết yếu trong thời gian hợp lý. Đây cũng là nền tảng để phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng, tức mô hình TOD.
Trong ngắn hạn, các dự án lớn tạo thêm nhu cầu cho xây dựng, thép, xi măng, cơ khí, thiết bị, vận tải, tư vấn, bảo hiểm và tín dụng; đồng thời tạo việc làm, thu nhập và thúc đẩy tiêu dùng.
Tuy nhiên, vòng tác động quan trọng hơn xuất hiện sau khi công trình đi vào hoạt động. Đường vành đai giúp hàng hóa lưu thông nhanh hơn; metro giúp người lao động tiếp cận việc làm thuận tiện hơn; các tuyến kết nối cảng biển và sân bay giúp giảm thời gian, chi phí logistics. Khi đó, năng suất của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế mới thực sự được nâng lên.
Vì vậy, không nên chỉ đo thành công bằng số vốn giải ngân hoặc số km đường hoàn thành mà cần đánh giá mỗi đồng vốn đầu tư cho hạ tầng thu hút thêm được bao nhiêu vốn tư nhân, tạo ra bao nhiêu việc làm có năng suất cao và đóng góp thêm bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế.
Hạ tầng thường tạo kỳ vọng tăng giá bất động sản tại những khu vực có dự án đi qua. Thành phố cần làm gì để giá trị từ hạ tầng được chuyển hóa thành động lực phát triển, thay vì tạo ra những đợt đầu cơ đất đai, thưa ông?

TP Hồ Chí Minh tìm động lực tăng trưởng từ hạ tầng. Ảnh: Hải Yên
Giá bất động sản sẽ không tăng đồng đều. Những khu vực được rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển, kết nối thuận lợi với metro, sân bay, cảng biển, đường vành đai và các trung tâm việc làm sẽ nhận được phần giá trị gia tăng lớn hơn. Ngược lại, nơi mới chỉ có thông tin quy hoạch nhưng kết nối thực tế chưa được cải thiện sẽ khó duy trì mức tăng bền vững.
Điều cần cảnh giác là tình trạng giá đất chạy trước tiến độ hạ tầng. Nếu một dự án mới dừng ở quy hoạch hoặc vừa khởi công nhưng giá bất động sản xung quanh đã vượt xa khả năng tạo thu nhập và sức mua thực tế, “hiệu ứng hạ tầng” rất dễ chuyển thành “hiệu ứng đầu cơ”.
Đầu tư giao thông vì vậy phải đi cùng phát triển nhà ở xã hội, nhà ở vừa túi tiền và chỉnh trang đô thị. Thành phố cũng cần công khai tiến độ, phạm vi và khả năng kết nối thực tế của từng dự án để hạn chế việc lợi dụng thông tin quy hoạch tạo sóng giá.
Nếu hạ tầng tốt lên nhưng phần lớn giá trị tạo ra chỉ chuyển vào giá đất, kéo theo chi phí sinh hoạt và kinh doanh tăng, một phần lợi ích kinh tế của công trình sẽ bị triệt tiêu. Người lao động có thể phải sống ngày càng xa nơi làm việc, trong khi doanh nghiệp chịu thêm áp lực về chi phí mặt bằng và nhân công.
Thay đổi quan trọng không nằm ở một ưu đãi riêng lẻ mà ở khả năng TP Hồ Chí Minh hình thành một “hệ sinh thái vốn” mới. Trong đó, tôi đặc biệt quan tâm đến trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình và sự kết nối giữa Trung tâm Tài chính quốc tế với các dự án hạ tầng, logistics, công nghệ cao và chuyển đổi xanh.
Nhu cầu vốn cho giao thông, logistics, chỉnh trang đô thị và chuyển đổi xanh ngày càng lớn, theo ông, cơ chế nào có thể giúp TP Hồ Chí Minh huy động nguồn lực dài hạn, giảm phụ thuộc vào ngân sách và tín dụng ngân hàng?
Thay đổi quan trọng không nằm ở một ưu đãi riêng lẻ mà ở khả năng TP Hồ Chí Minh hình thành một “hệ sinh thái vốn” mới. Trong đó, tôi đặc biệt quan tâm đến trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình và sự kết nối giữa Trung tâm Tài chính quốc tế với các dự án hạ tầng, logistics, công nghệ cao và chuyển đổi xanh.

Hạ tầng logistics Phước Long, TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Hải Yên
Hạ tầng cần nguồn vốn ban đầu rất lớn nhưng tạo ra lợi ích trong hàng chục năm. Nếu quá phụ thuộc vào ngân sách hoặc tín dụng ngân hàng, Thành phố khó đáp ứng nhu cầu đầu tư. Thị trường trái phiếu có thể đưa nguồn vốn dài hạn từ doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư và nhà đầu tư tổ chức trong, ngoài nước vào các công trình.
Tuy nhiên, quyền phát hành trái phiếu mới chỉ là điều kiện ban đầu. Muốn thu hút vốn dài hạn, Thành phố cần minh bạch tài chính, thực hiện xếp hạng tín nhiệm, công khai dòng tiền của từng dự án và xây dựng cơ chế trách nhiệm giải trình đủ mạnh. Nhà đầu tư chỉ bỏ vốn khi họ có thể định lượng và quản trị rủi ro.
TP Hồ Chí Minh nên coi Trung tâm Tài chính quốc tế là “hạ tầng vốn” của nền kinh tế, tương tự metro là hạ tầng giao thông và trung tâm dữ liệu là hạ tầng số. Khi đó, các dự án metro, TOD, logistics, hạ tầng số và chuyển đổi xanh có thể tiếp cận trái phiếu công trình, trái phiếu xanh, quỹ hạ tầng, vốn cổ phần hoặc các khoản vay hợp vốn, thay vì chủ yếu dựa vào ngân hàng.
Đến đầu tháng 9/2026, thể chế và bộ máy của Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam đã cơ bản hình thành. Sáu nhóm sản phẩm, dịch vụ được đề xuất gồm quỹ đầu tư và quản lý tài sản; tài sản mã hóa dựa trên tài sản thực; tín chỉ carbon quốc tế; giao dịch hàng hóa và phái sinh; công nghệ tài chính; trái phiếu phát hành tại Trung tâm. Chính phủ yêu cầu đến tháng 11/2026 phải có sản phẩm, thương vụ cụ thể. Đây là bước chuyển từ việc Thành phố đi tìm nguồn vốn cho từng dự án sang xây dựng một thị trường có khả năng huy động và phân bổ vốn thường xuyên.
Khi Trung tâm Tài chính quốc tế và Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ từng bước đi vào hoạt động, TP Hồ Chí Minh cần làm gì để nâng sức hút FDI? Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị ra sao để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị mới?
Trong giai đoạn tới, TP Hồ Chí Minh khó cạnh tranh chỉ bằng ưu đãi. Thành phố cần tạo lợi thế bằng khả năng giúp nhà đầu tư triển khai dự án nhanh hơn, huy động vốn thuận lợi hơn và hoạt động trong một hệ sinh thái có giá trị cao hơn.

Thành phố cần tạo lợi thế giúp nhà đầu tư triển khai dự án nhanh hơn. Ảnh: J&T
Nhà đầu tư sẽ xem xét những vấn đề rất cụ thể như thời gian từ lúc quyết định đầu tư đến khi dự án vận hành; khả năng tiếp cận đất đai, điện và hạ tầng số; chất lượng nguồn nhân lực; sự thuận lợi trong lưu chuyển dòng vốn; khả năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và giải quyết tranh chấp minh bạch, có thể dự báo.
Vì vậy, Trung tâm Tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ, cảng biển, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, hệ thống logistics, khu công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và metro không nên vận hành như những “ốc đảo”. Giá trị lớn nhất chỉ xuất hiện khi các cấu phần này được kết nối.
Khu thương mại tự do gắn với cảng biển Cái Mép Hạ được thành lập trong tháng 7/2026, có quy mô khoảng 4.174 ha, gồm các phân khu cảng container, logistics, cảng thủy nội địa, công nghiệp, đô thị và dịch vụ. Khu vực này tạo điều kiện kết nối hoạt động sản xuất, lưu kho, trung chuyển hàng hóa và các dịch vụ giá trị gia tăng với hệ thống tài chính.
Với doanh nghiệp Việt Nam, cơ hội quan trọng nhất là chuyển từ vị trí người cung cấp vật liệu, xây lắp hoặc dịch vụ phụ trợ sang nhà đầu tư, chủ sở hữu và đơn vị phát triển tài sản. Doanh nghiệp có thể tham gia các dự án PPP, đồng phát triển TOD, logistics, hạ tầng số, công nghệ và bất động sản.
Để tiến lên những khâu có giá trị cao hơn, doanh nghiệp phải nâng cấp đồng thời năng lực vốn, công nghệ và quản trị; từng bước làm quen với xếp hạng tín nhiệm, kiểm toán quốc tế, quản trị rủi ro, tiêu chuẩn ESG và các phương thức huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng.
Nếu metro và đường vành đai mở rộng không gian kinh tế, khu thương mại tự do và logistics mở rộng dòng hàng hóa, còn Trung tâm Tài chính quốc tế mở rộng dòng vốn, sự kết nối của ba dòng chảy này có thể tạo nền tảng cho một mô hình tăng trưởng mới của TP Hồ Chí Minh.

