TP.Hồ Chí Minh: Từ bài toán xử lý hàng triệu m3 bùn sang khai thác vật liệu mới cho hạ tầng

Hơn 8,4 triệu m³ bùn nạo vét dự kiến phát sinh từ các dự án hạ tầng của TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra yêu cầu không chỉ tìm nơi tiếp nhận, mà còn tính đến khả năng khai thác giá trị của dòng vật chất này...

Hơn 8,4 triệu m³ bùn nạo vét dự kiến phát sinh từ các dự án hạ tầng của TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra yêu cầu không chỉ tìm nơi tiếp nhận, mà còn tính đến khả năng khai thác giá trị của dòng vật chất này. Ảnh: Vnindustry

Hơn 8,4 triệu m³ bùn nạo vét dự kiến phát sinh từ các dự án hạ tầng của TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra yêu cầu không chỉ tìm nơi tiếp nhận, mà còn tính đến khả năng khai thác giá trị của dòng vật chất này. Ảnh: Vnindustry

Việc TP.Hồ Chí Minh mới đây công bố các khu vực tiếp nhận chất nạo vét để san lấp, đã mở ra hướng tiếp cận khác đối với nguồn vật liệu phát sinh cùng quá trình đầu tư hạ tầng.

HÀNG TRIỆU MÉT KHỐI BÙN ĐI CÙNG CÁC DỰ ÁN HẠ TẦNG

Theo Ban quản lý Dự án Đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.Hồ Chí Minh (UICi), trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng khối lượng đất, bùn phát sinh từ hoạt động thi công, nạo vét của các dự án do UICi làm chủ đầu tư (các dự án thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, môi trường và thủy lợi) khoảng 17,2 triệu m3, trong đó có khoảng 8,4 triệu m3 bùn nạo vét.

Chỉ ở 4 dự án trọng điểm đang được triển khai gồm: dự án xây dựng hạ tầng và cải tạo môi trường kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên; dự án nạo vét trục thoát nước rạch Xóm Củi; dự án nạo vét, xây dựng hạ tầng, cải tạo môi trường bờ bắc Kênh Đôi và dự án nạo vét, cải tạo môi trường, xây dựng hạ tầng rạch Xuyên Tâm, đã có tổng khối lượng bùn nạo vét hơn 4 triệu m3.

Việc chưa xác định được nơi tiếp nhận đã khiến hạng mục nạo vét tại 4 dự án này chưa thể triển khai, ảnh hưởng đến tiến độ chung; đồng thời đặt ra bài toán làm thế nào để xử lý, giải quyết hàng triệu khối bùn thải, vật chất nạo vét này.

Trong đó, riêng kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên dự kiến phát sinh khoảng 3,3 triệu m3 bùn. Còn lại các dự án Rạch Xóm Củi khoảng 272.000 m3, bờ bắc Kênh Đôi khoảng 98.000 m3 và rạch Xuyên Tâm gần 502.000 m3.

Để xử lý vấn đề này, mới đây, UBND TP.Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 5553/QĐ-UBND ngày 26/8/2026, công bố danh mục khu vực, địa điểm tiếp nhận chất nạo vét, nhận chìm chất nạo vét trên toàn địa bàn.

Danh mục bao gồm 7 khu vực, địa điểm tiếp nhận trên bờ với tổng khả năng tiếp nhận khoảng 12,547 triệu m3 và một khu vực nhận chìm ngoài khơi biển Vũng Tàu với khối lượng khoảng 13,61 triệu m3.

Trong 7 vị trí trên bờ, nhiều địa điểm được xác định mục đích tiếp nhận là san lấp. Riêng dự án khu công nghiệp Vạn Thương tại phường Tân Hải có khả năng tiếp nhận khoảng 8 triệu m3, dự kiến từ năm 2027 hoặc sớm hơn khi nhà đầu tư hoàn tất các thủ tục. Dự án Bến cảng tổng hợp Long Sơn - Mỹ Xuân có khả năng tiếp nhận khoảng 969.400 m3; khu đất giai đoạn 2 thuộc dự án Cảng quốc tế SP-PSA khoảng 250.000 m3.

Như vậy, cùng với việc tìm địa điểm tiếp nhận, Thành phố đã bắt đầu hình thành những địa chỉ có nhu cầu sử dụng chất nạo vét cho mục đích san lấp. Đây là cơ sở để chuyển câu chuyện từ tìm nơi xử lý sang xem xét khả năng đưa một phần vật chất nạo vét trở lại quá trình đầu tư xây dựng.

KHÔNG PHẢI BÙN NẠO VÉT NÀO CŨNG CÓ THỂ SỬ DỤNG

Việc tận dụng bùn nạo vét làm vật liệu không thể thực hiện theo cách coi toàn bộ khối lượng phát sinh là nguồn vật liệu san lấp.

Nghị định 57/2024/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động nạo vét trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa đã có quy định việc quản lý chất nạo vét. Điều 47 của Nghị định đặt ra yêu cầu về tiêu chuẩn và điều kiện cần thiết để tận dụng sản phẩm nạo vét vào mục đích san lấp, xây dựng.

Điều này cho thấy khả năng biến bùn nạo vét thành nguồn vật liệu không được xác định chỉ bằng khối lượng. Thành phần, tính chất lý - hóa và mức độ phù hợp với mục đích sử dụng sẽ là cơ sở để phân định dòng vật chất nào có thể tận thu.

Trong khi Bộ Xây dựng chưa ban hành đầy đủ tiêu chuẩn và các điều kiện cần thiết này, Quyết định 5553 của UBND TP.Hồ Chí Minh giao Sở Xây dựng xem xét báo cáo kết quả thí nghiệm thành phần, tính chất lý - hóa của vật chất nạo vét do đơn vị đề nghị đổ cung cấp. Trên cơ sở đó, cơ quan này đánh giá khả năng tận thu vật chất nạo vét để phục vụ san lấp cho các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn Thành phố.

Đây cũng là điểm khác biệt giữa việc “có chỗ tiếp nhận” và “có nguồn vật liệu để sử dụng”. Một địa điểm được công bố trong danh mục tiếp nhận không đồng nghĩa toàn bộ bùn từ các dự án đều có thể đưa vào san lấp tại đó. Việc vận chuyển, tiếp nhận và sử dụng vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về môi trường, xây dựng và những quy định liên quan.

Nghị định 57/2024/NĐ-CP quy định, đối với chất nạo vét được đổ vào khu vực, địa điểm trên bờ được UBND cấp tỉnh chấp thuận, hoạt động tiếp nhận phải được quản lý để bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu đổ chất nạo vét cũng phải lựa chọn khu vực phù hợp và thực hiện các thủ tục theo quy định.

Do đó, khâu phân định và kiểm soát chất lượng trở thành điều kiện đầu tiên nếu muốn mở rộng khả năng tận dụng nguồn vật chất này cho hạ tầng.

TỪ NƠI TIẾP NHẬN ĐẾN NGUỒN VẬT LIỆU THỨ CẤP

Quyết định 5553 còn mở ra một hướng quản lý khác khi giao Sở Xây dựng định kỳ rà soát, đánh giá tình hình thực hiện, đăng tải thông tin về nhu cầu tìm kiếm khu vực, địa điểm tiếp nhận chất nạo vét và cập nhật danh mục khi có thay đổi.

Cơ chế này trước hết giải quyết bài toán tìm nơi tiếp nhận. Nhưng với khối lượng bùn lớn phát sinh từ các dự án hạ tầng, giá trị kinh tế sẽ được mở rộng nếu việc kết nối được thực hiện theo hướng không chỉ xác định “nơi chứa”, mà còn xác định “nơi có nhu cầu sử dụng” đối với phần vật chất đáp ứng yêu cầu.

Thực tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng việc kết nối giữa nơi phát sinh vật chất có khả năng tái sử dụng với công trình, dự án, tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng hiện chưa thuận lợi và kịp thời. Điều này làm tăng khối lượng phải vận chuyển, xử lý, phát sinh chi phí và có thể ảnh hưởng tiến độ dự án. Không những thế, các chủ nguồn thải cũng còn lúng túng trong việc quản lý, phân định và phân loại một số loại bùn thải.

Nếu khâu phân loại, kiểm định và xác định khả năng sử dụng được tổ chức ngay từ nguồn phát sinh, dòng vật chất này có thể được phân thành những hướng xử lý khác nhau: phần không phù hợp tiếp tục được xử lý theo quy định; phần đáp ứng yêu cầu có thể được kết nối với các khu vực có nhu cầu san lấp.

Khi đó, khoảng cách giữa nơi nạo vét và nơi tiếp nhận cũng trở thành một yếu tố kinh tế cần tính đến. Thay vì vận chuyển toàn bộ khối lượng đến một số địa điểm ở xa, việc xác định đúng chất lượng và nhu cầu sử dụng có thể giúp lựa chọn phương án tiếp nhận phù hợp hơn, qua đó hạn chế những chi phí phát sinh không cần thiết.

Với 8,4 triệu m3 bùn nạo vét dự kiến phát sinh từ 55 dự án trong giai đoạn 2026 - 2030, việc tổ chức lại dòng vật chất này không còn là câu chuyện của từng dự án riêng lẻ. Đây là một bài toán quản lý nguồn vật liệu gắn trực tiếp với quá trình đầu tư hạ tầng của Thành phố.

Từ việc công bố các địa điểm tiếp nhận, bước tiếp theo là xác định rõ hơn phần vật chất nào có thể tận thu, đáp ứng điều kiện nào và có thể đưa vào những công trình nào. Khi những điều kiện đó được xác lập, một phần bùn nạo vét có thể được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ chi phí xử lý, mà còn như một nguồn vật liệu thứ cấp phục vụ quá trình san lấp và phát triển hạ tầng TP.Hồ Chí Minh.

Anh Khuê

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/tpho-chi-minh-tu-bai-toan-xu-ly-hang-trieu-m3-bun-sang-khai-thac-vat-lieu-moi-cho-ha-tang.htm