Trách nhiệm và hiệu quả quản lý rác thải nhựa

Cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu phải thực hiện tái chế hoặc đóng góp tài chính cho hoạt động thu gom, xử lý chất thải phát sinh từ sản phẩm và bao bì do mình đưa ra thị trường. Tuy nhiên, quá trình triển khai EPR tại Việt Nam vẫn còn một số khó khăn cần được tháo gỡ.

 Khi bị vứt bỏ và xử lý không đúng cách, rác thải nhựa, nilon, bao bì… sẽ gây ô nhiễm đất, nước, không khí.

Khi bị vứt bỏ và xử lý không đúng cách, rác thải nhựa, nilon, bao bì… sẽ gây ô nhiễm đất, nước, không khí.

Những khó khăn

Số liệu từ Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho thấy, trung bình mỗi năm người Việt Nam thải ra khoảng 1,8 triệu tấn rác nhựa. Khối lượng chất thải nhựa này chiếm khoảng 8 - 12% tổng lượng rác thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ khoảng 11 - 12% trong số đó được thu gom và tái chế, phần còn lại chủ yếu bị chôn lấp, đốt hoặc thải trực tiếp ra môi trường. Thực trạng này đang góp phần gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trước cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại COP26, Việt Nam từng bước hoàn thiện khung pháp lý về EPR từ việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của EU.

Nhận định về EPR, giới chuyên gia môi trường, chuyên gia kinh tế cho hay: Nhiều quốc gia đã áp dụng mô hình cơ chế trách nhiệm mở rộng EPR, theo đó doanh nghiệp (DN) phải thu hồi và tái chế bao bì sau khi sản phẩm đã tiêu thụ. Ở Việt Nam, quy định về EPR đã được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường 2020, yêu cầu các DN đóng góp kinh phí hoặc trực tiếp tổ chức thu gom, tái chế. Thực tế, nhiều DN đã có bước đi tích cực. Các hãng đồ uống triển khai chương trình thu hồi bao bì, rác thải nhựa… một số công ty thực phẩm hợp tác với siêu thị để đặt điểm thu gom bao bì. Ngành hàng tiêu dùng nhanh cũng đang chuyển dần sang bao bì giấy, bao bì phân hủy sinh học. Đây là những giải pháp không chỉ giảm lượng rác thải chôn lấp, mà còn hạn chế phát sinh khí mê tan từ rác hữu cơ lẫn tạp trong bao bì.

Và cơ chế này được kỳ vọng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, giảm áp lực đối với hệ thống quản lý chất thải, đồng thời huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân cho công tác bảo vệ môi trường. Nhưng hiện tại, cơ chế EPR này vẫn còn một số khó khăn cần được tháo gỡ trong quá trình triển khai ở Việt Nam. Ông Vũ Thái Trường - Trưởng Ban Khí hậu, Môi trường và Năng lượng của UNDP Việt Nam chia sẻ, thực tiễn cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách giữa thiết kế chính sách và thực tiễn thị trường tái chế trong nước. Bên cạnh đó, năng lực giám sát và minh bạch dữ liệu liên quan đến EPR đang trong quá trình hoàn thiện, mức độ sẵn sàng của DN chưa đồng đều, trong khi cơ chế thực hiện vẫn cần được củng cố để phát huy đầy đủ vai trò.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 54, 55 về thực thi cơ chế EPR

Từ kinh nghiệm quốc tế về EPR, cũng như vận hành tổ chức thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất, đại diện Văn phòng EPR - Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 54, 55 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

Chia sẻ dưới góc độ quản lý, ông Hồ Kiên Trung - Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: Trong thời gian tới cơ quan này sẽ tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện quá trình thực hiện chính sách liên quan đến cơ chế EPR để đề xuất các phương án hoàn thiện phù hợp. Mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ chặt chẽ, lâu dài của UNDP, không chỉ trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, mà cả trong việc phát triển các hướng dẫn kỹ thuật, nâng cao năng lực cho các bên liên quan, cũng như thúc đẩy đối thoại công - tư nhằm đưa chính sách, cơ chế EPR thực sự đi vào cuộc sống.

Nam Anh

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/trach-nhiem-va-hieu-qua-quan-ly-rac-thai-nhua.html