Trao quyền - vấn đề cốt lõi trong xây dựng xã hội học tập

Để được trao quyền, vấn đề học tập suốt đời trong xã hội học tập chuyển đổi số của mỗi người là yếu tố cốt lõi. Bản thân hệ thống giáo dục hiện đại trong xã hội học tập không tự nó làm cho mỗi công dân, mỗi tổ chức được trao quyền. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi từng cá nhân, từng tổ chức biết học tập.

Hệ thống giáo dục hiện đại trong xã hội học tập đề cao tính cá nhân trong tổ chức. Ảnh: Thang Nguyen/fexel-free

Hệ thống giáo dục hiện đại trong xã hội học tập đề cao tính cá nhân trong tổ chức. Ảnh: Thang Nguyen/fexel-free

Trao quyền được hiểu như thế nào?

Trao quyền (Empowerment) là quá trình người quản lý/lãnh đạo chuyển giao một phần quyền lực, trách nhiệm và thẩm quyền ra quyết định cho cá nhân hoặc nhóm (tập thể, cộng đồng) nhằm giúp họ có đủ khả năng tự chủ, phát huy tiềm năng và chịu trách nhiệm về kết quả công việc, thay vì chỉ "ủy quyền" (Authorize).

Authorize trong tiếng Anh gần nghĩa với thuật ngữ "Delegate" - giao phó nhiệm vụ, "Entrust" - giao cho một việc quan trọng thực hiện một công việc, một nhiệm vụ cụ thể.

Trao quyền là quá trình giúp cá nhân và cộng đồng có thêm quyền tự chủ, tự quyết định, trở nên mạnh mẽ và tự tin hơn trong việc kiểm soát cuộc sống, sử dụng nguồn lực, và đòi hỏi quyền lợi của mình; nó là việc dịch chuyển từ nhận thức "thiếu hụt" sang nhận thức "sức mạnh" và được áp dụng trong công tác xã hội, giáo dục và quản lý để tăng cường năng lực và sự tham gia của con người.

Trong tác phẩm "Trao quyền hiệu quả", Lee Thomas định nghĩa rằng: "Trao quyền là để người khác làm công việc vốn thuộc của mình, dưới sự giám sát". Hiểu một cách cụ thể hơn, trao quyền là sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm được lập kế hoạch trước đó và tiến hành một cách cẩn trọng nhằm thực hiện các công việc trong một giới hạn đã được thỏa thuận giữa người trao quyền với người được trao quyền.

Trách nhiệm ở đây chính là nhiệm vụ được trao quyền. Quyền hạn là quyền lực để có thể đưa ra các quyết định và thi hành các quyết định quản trị, bao gồm việc xác định rõ những kết quả đang kỳ vọng, giao việc cho người dưới quyền và giao cho họ quyền hạn để thực hiện được nhiệm vụ.

Trong quá trình điều hành chiến lược xây dựng xã hội học tập, UNESCO tuyên bố rõ ràng rằng, việc thúc đẩy học tập suốt đời nhằm phát huy triệt để những năng lực của mỗi người.

Học tập suốt đời là chìa khóa để trao quyền cho người dân trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng sản xuất, xây dựng và phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường trong sạch vì một xã hội bền vững; tạo điều kiện để người dân đối đầu với những rủi ro kinh tế, nguy cơ của các dịch bệnh, những thảm họa của biến đổi khí hậu và sự hủy diệt do chiến tranh mang lại.

Nền giáo dục của thế giới hiện đại trong thế kỷ 21 đang xúc tiến mạnh mẽ giáo dục khai phóng, hướng tới mẫu người phát triển mạnh mẽ những năng lực để họ ngày càng được tự do hơn, tự kiến tạo những tri thức mới, hoàn thiện những kỹ năng mới và xây dựng những thái độ đúng đắn đối với những giá trị mới của thế giới trong kỷ nguyên số.

Con người tự do đó sẽ phát huy năng lực sáng tạo để khởi nghiệp và lập nghiệp trên nền tảng của sự trao quyền từ phía xã hội.

Chuẩn bị cho toàn dân tộc tiến vào kỷ nguyên số, hướng tới một quốc gia hưng thịnh, hạnh phúc, Đảng và Nhà nước đã coi trọng việc trao quyền cho mỗi người dân.

Thông qua sự phát triển một nền giáo dục hiện đại, mọi người dân sẽ có cơ hội học tập suốt đời, được nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân, tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao, có đội ngũ nhân tài khoa học, công nghệ làm động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước (Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo); Triển khai phong trào "học tập số", nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ trong nhân dân, các phong trào khởi nghiệp, sáng tạo, cải tiến nâng cao hiệu quả công việc, năng suất lao động, khơi dậy tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc (Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia).

Quan điểm "trao quyền" của Đảng và Nhà nước, rất tường minh về mục đích và giải pháp đạt những mục đích đó.

Điều kiện của việc trao quyền

Để hiểu rõ những điều kiện cần có của cá nhân/nhóm được trao quyền cũng như của người trao quyền, trước hết ta phân biệt nội dung của mấy thuật ngữ sau:

Giao nhiệm vụ không phải là trao quyền. Thực chất của giao nhiệm vụ là hành động của một nhà quản lý, nhà lãnh đạo giao một công việc cụ thể, một trách nhiệm cụ thể cho một người/một nhóm (những nhân viên, những nhóm hoạt động thuộc cấp dưới). Cá nhân hoặc nhóm phải làm đúng yêu cầu đặt ra, hoàn thành đúng thời hạn cho phép. Rất nhiều công việc được giao không cho phép người thực thi được sáng tạo, được thay đổi một chi tiết nào trong công việc.

Ủy quyền là một hình thức của giao nhiệm vụ. Hầu hết việc ủy quyền cho ai đó chỉ là cho phép thực hiện công việc theo một khuôn khổ chặt chẽ, ví dụ ủy quyền ký nhận giúp một khoản tiền, một món hàng, một giao dịch nhỏ...

Trao quyền là hình thức giao nhiệm vụ trên cơ sở tạo ra năng lực cần thiết ở người được tín nhiệm thông qua quá trình huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng. Người trao quyền thường đòi hỏi cao ở người được trao quyền không chỉ ở năng lực, mà còn ở sự trung thực, ý thức kỷ luật và trách nhiệm, ý chí và sự kiên định. Yếu tố cốt lõi để người được trao quyền phải có trong năng lực của mình là có được những tri thức, những kỹ năng, những thái độ đáp ứng với công việc được ủy thác.

Lao động và học hỏi - đó là điều kiện để những người trẻ được trao quyền. Minh họa: fexel

Lao động và học hỏi - đó là điều kiện để những người trẻ được trao quyền. Minh họa: fexel

Những điều kiện nhất thiết phải có ở người/nhóm được trao quyền

Để được trao quyền, cá nhân/nhóm cần phải chủ động phấn đấu để lãnh đạo có đủ độ tin cậy mà trao quyền tự chủ cho mình.

Những điều kiện cần và đủ chủ yếu là:

- Có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng với công việc chuyên môn đang đảm nhiệm. Đồng thời lại thể hiện tinh thần học tập thường xuyên để luôn hoàn thiện năng lực và những phẩm chất đã có để luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu sản phẩm được giao, cá nhân trở thành người lao động tiên tiến, tập thể lao động trở thành đơn vị có thành tích cao trong sản xuất, kinh doanh...

- Ý thức học tập và tự học là yếu tố hàng đầu để cá nhân/nhóm luôn tiếp cận với tri thức mới. Song, sáng tạo phải trở thành lẽ sống trong lao động. Để có được điều này, cá nhân/nhóm phải rèn luyện cho mình có kỹ năng tư duy phản biện, lối suy nghĩ tăng trưởng, tránh cách làm việc kinh nghiệm chủ nghĩa và giáo điều. Dám nghĩ, dám làm nhưng phải dám chịu trách nhiệm và đam mê công việc là một tiêu chí quan trọng để nhà lãnh đạo căn cứ vào đó mà cân nhắc việc trao quyền và mức độ trao quyền.

Cá nhân/nhóm được trao quyền phải là những con ngời có tinh thần hợp tác và gắn kết với nhau trong lao động, có kỹ năng làm việc nhóm, từng cá nhân biết làm giàu tri thức cho mình, song nhóm lao động thông qua việc học tập của từng cá nhân lại là tổ chức biết học tập và có vốn tri thức của nhóm.

Hành trình tri thức của cá nhân/nhóm lao động là hành trình học tập chuyển đổi số. Mỗi cá nhân qua hành trình đó sẽ là một công dân số thực thụ, và nhóm lao động của họ sẽ trở thành những đơn vị học tập số.

Điều kiện về phía nhà lãnh đạo

Để việc trao quyền có hiệu quả, người lãnh đạo cần bảo đảm những điều kiện sau:

- Một khi đã trao quyền thì phải có sự tin tưởng nhất định, từ đó có sự động viên, khuyến khích người/nhóm được trao quyền để họ phấn khởi làm việc. Cần tránh sự kiểm soát quá mức, sao cho việc quản lý vi mô (Micromanage) không xảy ra. Có như vậy người được trao quyền mới có cơ hội phát huy tối đa năng lực sáng tạo của mình.

- Trước khi trao quyền, nhà lãnh đạo nhất thiết phải bảo đảm quá trình huấn luyện tốt, nội dung huấn luyện thiết thực, phương tiện huấn luyện hiện đại, bảo đảm cho người được trao quyền có đủ kiến thức và kỹ năng đáp ứng với công việc được trao quyền.

- Trao quyền không có nghĩa giao phó, mà là đồng hành, luôn theo dõi sát sao, động viên khích lệ người được trao quyền, lắng nghe ý kiến phản hồi của họ mà điều chỉnh kịp thời những bước đi trong hành trình thực thi quyền trao của cấp dưới.

- Việc trao quyền phải nằm trong một chiến lược rõ ràng, ra quyết định dứt khoát và nhanh chóng. Tránh trao quyết định mà thiếu sự định hướng và cũng tránh thu hồi quyết định trao quyền một cách vội vã khi chưa có sự đánh giá đầy đủ.

- Với cá nhân/nhóm được trao quyền, nhà lãnh đạo phải công bằng, công tâm, khen chê đúng việc, đúng người, đúng lúc, đúng mức; Khen để người được trao quyền làm tốt hơn nữa nhiệm vụ được giao, chê để họ tích cực tìm kiếm cơ hội hoàn thành tốt công việc, không lặp lại sai lầm và tự tin trong khắc phục những thiếu sót từng mắc phải.

Những cơ hội để người dân được nhà lãnh đạo/quản lý trao quyền khi sống trong kỷ nguyên số

1. Cơ hội đầu tiên cần nói đến là việc học tập suốt đời được tích hợp bằng những công nghệ số về các phương diện phát triển nội dung, hiện đại hóa phương pháp học tập và sự phong phú của tài nguyên giáo dục mở.

Các khóa học trực tuyến cùng việc học tập mọi lúc mọi nơi nhờ các thiết bị kỹ thuật số thông minh, những phương pháp học tập và tự học phát huy năng lực kiến tạo tri thức và tư duy sáng tạo giúp cho người học thực hiện được thực hiện phương thức cá nhân hóa... làm cho mỗi cá nhân mang đậm thêm những nét riêng trong cá tính, tạo cho họ vững vàng hơn, phát huy sở trường và sở đoản nhanh hơn. Đó là cơ sở quan trọng để được nhà lãnh đạo/quản lý trao quyền.

Trong lao động, người có thêm những phương thức hoạt động linh hoạt như làm việc từ xa, tương tác đồng thời với nhiều đối tượng khác nhau, tính chủ động được tăng cường, nhiều công việc không đòi hỏi sự hiện diện hợp lý, việc dùng đồng thời nhiều công nghệ đã giúp người lao động chủ động, linh hoạt, năng suất lao động cao.

Gs.TS Phạm Tất Dong

Họ không còn là người lao động chỉ thực thi mệnh lệnh... Những điều kiện hoạt động đó làm tăng lên sự tín nhiệm của cấp lãnh đạo/quản lý. Đây là một chỉ số đánh giá để cấp trên căn cứ trong việc trao quyền.

Với những người có ý thức trau dồi năng lực và kỹ năng số, họ càng làm việc có kết quả thì càng hưng phấn, càng hứng thú và nhiệt tình, qua đó tích lũy được nhiều kiến thức chuyên môn, có thêm nhiều kinh nghiệm, từ đó họ càng tích cực học hỏi, tích cực tìm tòi, sáng tạo trong công việc. Chính đây là yếu tố của nhà quản trị tin tưởng vào người dưới quyền và yên tâm trao quyền cho họ.

Trong xã hội, trao quyền là hành động của nhà lãnh đạo thể hiện sự gắn bó, tin tưởng và tôn trọng người dân, đầu tư vào những điều kiện phát huy năng lực của người dân để người dân tự chủ đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội.

Việc trao quyền cho dân thường tạo ra lợi ích

Tăng cường sự tự chủ của người được trao quyền. Khi cảm thấy bản thân có quyền kiểm soát công việc của mình, người được trao quyền sẽ tạo ra sự tự chủ cao. Họ không chỉ thấy mình được tự do hơn trước, mà còn thấy mình phải đề cao trách nhiệm trong công việc hơn nữa.

Phát huy sự đổi mới, sáng tạo của người được trao quyền. Trao quyền cho dân là một chiến lược quản trị hiệu quả bởi nó khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới ở mỗi người, mỗi tổ chức. Cùng với ấn tượng về cá nhân/nhóm được tôn trọng, người được trao quyền có tâm lý muốn cam kết mạnh hơn trong việc hướng tới mục đích cần đạt. Đồng thời, họ sẽ tạo ra một môi trường làm việc cởi mở và chia sẻ ý tưởng cho người xung quanh.

Cải thiện sự gắn bó trong nhóm lao động. Khi từng cá nhân trong nhóm được trao quyền có cảm giác về hiệu quả tốt của nhiệm vụ được trao, về những giá trị mà họ đem lại do sự hợp tác của họ thì ý thức về gắn kết nhóm được củng cố. Họ sẽ cùng nhau đón nhận sự đánh giá tốt đẹp từ phía lãnh đạo, nhưng đồng thời trong họ nảy sinh tâm lý gắn kết với nhau hơn nữa, hợp tác với nhau hơn nữa để sẵn sàng đón lấy những nhiệm vụ mới sẽ được trao.

Tăng cường ý thức vươn lên mạnh mẽ trong công việc. Càng được trao quyền, con người càng cảm thấy mình phải nhanh chóng nắm bắt các cơ hội để thực thi tốt nhất những nhiệm vụ được trao liên tiếp diễn ra. Những việc nhận sau cần có chất lượng cao hơn, thời gian thực hiện ngắn hơn, ý thức cạnh tranh (thi đua) phải mạnh mẽ hơn. Các tổ sản xuất, các đơn vị kinh doanh, các đội thể thao, các nhóm giáo viên trong tập thể sư phạm... đều có tâm lý này.

Đại hội Đảng lần thứ XIV (2026) và triển vọng về quan điểm "Trao quyền" được thể hóa triệt để hơn

1. Phát triển kinh tế tư nhân là một cơ hội quan trọng của việc trao quyền trong lĩnh vực phát triển kinh tế

Trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng có một quan điểm mới "Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhát của nền kinh tế quốc gia" (Nghị quyết 68-NQ/TW). Sự khẳng định này mang lại những hứa hẹn của Đảng:

- Kinh tế tư nhân sẽ đóng góp vào GDP và ngân sách nhà nước có thể tới 50%.

- Kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh.

- Kinh tế tư nhân sẽ tạo ra nhiều việc làm cho lực lượng lao động (dự kiến, số việc làm do kinh tế tư nhân sẽ chiếm khoảng 82% tổng số lao động trong nền kinh tế).

- Kinh tế tư nhân sẽ thu hút vốn đầu tư mạnh mẽ, tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân sẽ đóng vai trò thay thế nguồn đầu tư công ở mức đáng kể.

Coi kinh tế tư nhân là động lực lớn nhất trong phát triển kinh tế là sự triển khai tư tưởng Hồ Chí Minh về "công tư đều có lợi" khi Người nói đến phát triển kinh tế, xây dựng đời sống no ấm cho nhân dân. Sự khẳng định về vai trò kinh tế tư nhân trong điều kiện phát triển đất nước khi đi vào kỷ nguyên số cho thấy, đây là phương hướng phát triển kinh tế nhằm bung ra năng lực kinh doanh trong dân, là hướng "trao quyền"được toàn dân hoan nghênh và hưởng ứng nhiệt liệt.

2. Xây dựng đội ngũ nhân tài khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao để tạo động lực và lợi thế cạnh tranh của đất nước

Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã coi sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là khâu đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại.

Theo quan điểm chỉ đạo này, ta thấy có một số ý tưởng về trao quyền sau đây:

- Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và là động lực, động lực chính để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất - kinh doanh;

- Nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài khoa học, công nghệ là động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước.

Thông qua những quan điểm và ý tưởng này, chúng ta thấy rõ, nhân dân lao động, doanh nghiệp và những nhân tài khoa học, công nghệ là những đối tượng trọng yếu được lựa chọn để trao quyền phát triển sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh có hiệu quả để nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

3. Hiện đại hóa hệ thống giáo dục để chuẩn bị những thế hệ mới có đủ năng lực làm chủ đất nước trong kỷ nguyên số

Thế giới hiện đại đang có những thay đổi toàn diện, đặc biệt là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang định hình lại nền giáo dục toàn cầu, và nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước lối rẽ sang kỷ nguyên số.

Nguồn nhân lực mới của quốc gia trong thập niên 2026-2035 yêu cầu phải đột phá phát triển giáo dục và đào tạo để thế hệ trẻ, bao gồm những thành viên cuối cùng thuộc nhóm nhân khẩu Z và toàn bộ thành viên của thế hệ Alpha, Beta thành những công dân của xã hội số. Mục tiêu đào tạo này chỉ có thể thực hiện bằng những mô hình trường học thông minh.

- Hệ thống các trường phổ thông thông minh bao gồm những trường được xây dựng theo mô hình trường hạnh phúc, trường học xanh hoặc trường học số. Ba tên gọi này về thực chất, không phải là 3 mô hình khác biệt và riêng rẽ, mà trong đó, mọi hoạt động giáo dục - đào tạo đều được định hình của sự tích hợp những công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây.

- Hệ thống đào tạo nghề từ năm 2025 trở về trước sẽ thuộc về lịch sử. Trong 10 năm trước mắt, những mô hình giáo dục nghề nghiệp mới sẽ định hướng tới mô hình trường đào tạo nghề thực chiến, hay còn gọi là thực học, thực nghiệp (Word-Based learning). Mục tiêu cốt lõi của mô hình này là biến sinh viên thành "người làm việc thực thụ".

Đặc điểm của mô hình này là:

Học đi đôi với hành, lý thuyết được áp dụng ngay lập tức vào các tình huống, các dự án thực tế.

Gắn kết với doanh nghiệp: Sinh viên tham gia trực tiếp vào các dự án thật của các doanh nghiệp, dưới sự hướng dẫn của giảng viên và chuyên gia.

Nhân lực được đào tạo theo hướng phù hợp vào nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội, đảm bảo cho sinh viên ra trường được sử dụng ngay.

Trong hệ thống dạy nghề hiện đại, mô hình đào tạo nghề mở và liên thông là một định hướng quan trọng. Mô hình này được tổ chức theo nhu cầu xã hội như sau:

Chuyển đổi số và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo, sử dụng cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia, hỗ trợ giảng dạy bằng những thiết bị thông minh nhằm cá nhân hóa quá trình học tập.

Giáo dục STEM là cầu nối tích hợp kiến thức vào thực tiễn, giúp sinh viên phát triển tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và công bằng theo hướng tạo nhân lực chất lượng cao cho dân tộc thiểu số và giúp cho sinh viên theo học ở những vùng khó khăn về kinh tế, địa lý... cũng được hưởng các điều kiện về trường lớp, thiết bị dạy học và môi trường học tập chuyển đổi số.

- Hệ thống giáo dục đại học theo hướng hiện đại hóa sẽ được nâng tầm trong đào tạo nhân tài, dắt dẫn nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.

Những trường đại học công nghệ thế hệ mới sẽ trở thành đầu tàu trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên nền tảng hợp tác, liên kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp mở.

Trường đại học của các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia có vai trò lớn không chỉ đào tạo những thế hệ trẻ, mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.

Mô hình Đại học Mở và Đại học có khoa giáo dục người lớn sẽ là một địa chỉ đào tạo - bồi dưỡng cho nhân lực của các tổ chức nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các hội quần chúng.

Hệ thống giáo dục người lớn bao gồm những thiết chế giáo dục không chính quy sẽ thực hiện chuyển đổi số triệt để nhằm:

Nâng cao chất lượng nhân lực tại chỗ theo yêu cầu của chương trình chuyển đổi số quốc gia.

Giúp cho đông đảo cán bộ, công chức, viên chức, công nhân kỹ thuật, công nhân nông nghiệp... nhanh chóng trở thành những công dân số.

Nhiệm kỳ Đại hội Đảng là thứ XIV (2026-2030) là giai đoạn đầu tiên của kỷ nguyên số ở Việt Nam. Những chủ trương, chính sách có trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV đều chứa đựng tinh thần "Trao quyền" cho dân một cách mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, để được trao quyền, vấn đề học tập suốt đời trong xã hội học tập chuyển đổi số của mỗi người là yếu tố cốt lõi. Bản thân hệ thống giáo dục hiện đại trong xã hội học tập không tự nó làm cho mỗi công dân, mỗi tổ chức được trao quyền. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi từng cá nhân, từng tổ chức biết học tập.

GS.TS Phạm Tất Dong

Nguồn Công dân & Khuyến học: https://congdankhuyenhoc.vn/trao-quyen-van-de-cot-loi-trong-xay-dung-xa-hoi-hoc-tap-179260112161938315.htm