Trao quyền xử phạt luật sư: Thận trọng bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp
Nghị định 109/2026/NĐ-CP (Nghị định 109) dự kiến sẽ có hiệu lực từ ngày 18-5-2026, đã bổ sung một số quy định đáng chú ý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trong đó có hoạt động hành nghề luật sư.
Làm sao để không "vừa đá bóng, vừa thổi còi"?
Điểm mới nhận được nhiều sự quan tâm là việc trao quyền cho Chủ tịch UBND cấp xã trong việc xử phạt đối với hoạt động hành nghề luật sư, trong đó có hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam có thời hạn.
Điều đáng lo ngại, không chỉ Chủ tịch UBND cấp xã, mà Trưởng Công an cấp xã, Trưởng phòng thuộc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh... và các chủ thể khác cùng được giao có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn.
Có thể nói, việc tăng cường công cụ xử lý vi phạm là cần thiết nhằm bảo đảm trật tự trong hoạt động hành nghề. Tuy nhiên, khi quy định này được đặt trong bối cảnh đặc thù của nghề luật sư, một nghề nghiệp gắn liền với quyền bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức, cơ quan và chức năng phản biện xã hội thì nhiều vấn đề cần được nhìn nhận thận trọng hơn.

Đoàn luật sư chuẩn bị làm thủ tục an ninh trước khi vào tham gia phiên tòa xét xử một vụ án tại TAND TPHCM (ẢNH: HOÀNG HÙNG)
Thực tiễn, luật sư thường xuyên tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan trong các vụ việc có yếu tố đối lập quyền và lợi ích với cơ quan nhà nước, điển hình như: khiếu kiện hành chính, tranh chấp đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng... Đây là những lĩnh vực mà chính quyền địa phương, trong đó có UBND cấp xã, thường là một bên liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp.
Việc trao thêm thẩm quyền xử phạt, thậm chí tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư cho Chủ tịch UBND cấp xã có thể làm phát sinh một nguy cơ “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Nói cách khác, cơ quan có khả năng trở thành đối tượng bị phản biện, khiếu kiện lại, đồng thời nắm trong tay công cụ xử lý đối với chính người đang thực hiện hoạt động phản biện đó.
Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định, quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật trong một số trường hợp cần thiết (Điều 14). Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc (Điều 35). Về quyền hành nghề luật sư là quyền nghề nghiệp đặc thù, chức năng xã hội của luật sư là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội (Điều 3 Luật Luật sư).
Dù vậy, theo quy định tại Điều 84 Nghị định 109 thể hiện cấp xã có thể đình chỉ hành nghề luật sư. Cần nhìn nhận một cách công bằng, nguy cơ này không mặc nhiên dẫn đến lạm quyền trên thực tế. Tuy nhiên, về mặt thiết kế thể chế, đây là một điểm nhạy cảm cần được kiểm soát chặt chẽ. Bởi chỉ cần tồn tại khả năng bị tác động, luật sư cũng có thể rơi vào trạng thái thận trọng quá mức, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.
Mở rộng nhưng phải có kiểm soát
Một vấn đề đáng chú ý khác là sự tương thích giữa quy định mới tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP với các quy định hiện hành của Luật Luật sư 2006 (sửa đổi, bổ sung 2012) và Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Theo Luật Luật sư, việc cấp và thu hồi chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp, trong khi hoạt động quản lý, kỷ luật luật sư do các tổ chức xã hội - nghề nghiệp như Đoàn Luật sư, Liên đoàn Luật sư đảm nhiệm thông qua một quy trình chặt chẽ, có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều chủ thể. Cơ chế này nhằm bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp; đồng thời vẫn duy trì kỷ cương, đạo đức hành nghề.
Trong khi đó, Nghị định 109 lại bổ sung cơ chế xử phạt hành chính với hình thức tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề có thời hạn và trao thẩm quyền này cho nhiều chủ thể, bao gồm cả cấp xã. Điều này đặt ra câu hỏi về khả năng chồng chéo giữa hai hệ thống xử lý.
Về nguyên tắc, xử phạt hành chính và kỷ luật nghề nghiệp có thể cùng tồn tại song song, bởi chúng phục vụ những mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên, ranh giới giữa hai cơ chế này cần được xác định rõ ràng để tránh tình trạng “một hành vi vi phạm lại bị xử lý hai lần” hoặc áp dụng thiếu nhất quán. Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2025) không có quy định giao cho UBND cấp xã có thẩm quyền tước chứng chỉ hành nghề của luật sư.
Đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ thứ bậc giữa các văn bản pháp luật. Khi một nghị định là văn bản dưới luật có quy định UBND cấp xã cho phép tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam có thời hạn trong khi Luật Luật sư lại quy định thẩm quyền này thuộc Bộ Tư pháp.
Trong trường hợp này, có thể là hiểu rằng biện pháp tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề theo Nghị định 109 chỉ mang tính tạm thời, nhằm xử lý nhanh các vi phạm hành chính cụ thể, còn việc thu hồi vĩnh viễn hoặc kỷ luật nghề nghiệp vẫn phải tuân theo quy trình của Luật Luật sư. Tuy nhiên, để cách hiểu này được áp dụng thống nhất, cần có hướng dẫn chi tiết từ cơ quan có thẩm quyền.
Không thể phủ nhận việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là cần thiết. Nhưng đối với nghề luật sư là một thiết chế quan trọng của Nhà nước pháp quyền thì việc yêu cầu về tính độc lập cần được đặt ở vị trí trung tâm.
Một hệ thống pháp luật hiệu quả không chỉ là hệ thống có nhiều công cụ xử lý, mà còn là hệ thống biết tự giới hạn quyền lực của mình để bảo vệ những giá trị cốt lõi. Trong trường hợp này, đó là quyền hành nghề hợp pháp của luật sư và quyền được bảo vệ công lý của người dân.
Thay vì nhìn nhận quy định mới chỉ dưới góc độ mở rộng thẩm quyền, cần đặt nó trong một tổng thể cân bằng, mở rộng nhưng phải có kiểm soát; tăng cường xử lý nhưng không làm suy giảm tính độc lập; bảo đảm trật tự nhưng không tạo ra tâm lý e ngại trong hoạt động tranh tụng và phản biện.
Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU
Ủy viên Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam











