Trên đỉnh núi mờ sương
Chuyện những cô giáo cắm bản có lẽ không còn mới, nhưng đó vẫn là câu chuyện có thể kể mãi. Bởi với những ai chưa từng đặt chân tới những vùng núi cao heo hút ấy, mọi hình dung đều chỉ mơ hồ; còn với những người đã một lần lên bản, cảm xúc đọng lại thường gói gọn trong hai chữ: nể phục. Cô giáo Cầm Thị Nho ở điểm trường mầm non thôn Tà Chơ - một trong những thôn xa xôi, khó khăn bậc nhất của xã Phình Hồ là một trong những người như thế.
Thôn Tà Chơ "vắt vẻo" trên đỉnh núi cao. Từ trung tâm xã Phình Hồ, quãng đường lên thôn dài gần 40km. Nếu tính từ vùng lòng chảo Mường Lò, đoạn đường ngược núi chỉ khoảng 10km, nhưng đó là 10km khiến không ít người phải chùn bước.
Mỗi khi mưa xuống, dù chỉ là mưa phùn, nhiều người dân ở thôn chọn cách không đi lại, bởi con đường ấy không cho phép sự chủ quan. Đường núi hẹp, xe lên hay xuống đều phải cài số thấp, chậm chạp "bò" dốc. Những khúc cua tay áo, đất núi trơn trượt, một bên là vách đá, một bên là vực sâu hun hút. Người Tà Chơ dù đã quen con đường này vẫn phải dè chừng. Với người lạ, mỗi khúc cua đều là một lần nín thở.

Tôi lên Tà Chơ vào những ngày cuối năm. Với tôi, đó đã là một lần “trở lại”, nên trong hành trang đã sẵn sự nể phục dành cho cô giáo cắm bản nơi đỉnh núi này. Câu chuyện về con đường lên thôn nhanh chóng trở thành đề tài đầu tiên khi gặp cô giáo Nho. Bởi với cô, quãng đường ấy đến nay vẫn là thử thách lớn. Nhà cô Nho ở thôn Vực Tuần, xã Cát Thịnh, cách Tà Chơ gần 40km.
Từ ngày nhận công tác tại điểm trường mầm non Tà Chơ, chồng cô trở thành người đưa đón vợ mỗi tuần: sáng thứ Hai lên thôn, chiều thứ Sáu đón về. Cô không thể tự mình cầm lái trên con đường núi hiểm trở ấy, dù đã nhiều lần cố gắng.
Cô Cầm Thị Nho kể: Ba lần mình thử đi xe, mình đi trước, chồng đi sau. Nhưng chỉ đi được đoạn đầu, đường còn tương đối rộng. Đến những khúc cua gắt, đường hẹp, mình không xử lý được tay lái, thấy nguy hiểm vô cùng. Có lần còn bị ngã. Cuối cùng đành từ bỏ.
Bởi vậy, những ngày mưa, khi chồng không thể lên đón, mà người thôn cũng không dám đi lại, cô Nho chỉ còn cách đi bộ, lặng lẽ men theo con đường núi gần 10km để xuống núi về nhà. Từng cắm bản ở xã Làng Nhì trước đây, nay là xã Phình Hồ, từ Đề Chơ, Chống Tàu đến Háng Đay, nhưng với cô Nho, đường lên Tà Chơ là khó khăn nhất.

Thử thách của cô giáo cắm bản không chỉ dừng lại ở đường đi. Cho đến nay, Tà Chơ vẫn chưa có điện lưới quốc gia. Thứ hiện diện nhiều nhất ở nơi này là sương giăng mờ đỉnh núi. Sáng sớm ngày đông, dù chưa phải là hôm rét buốt, sương mù đã phủ dày. Nhúng tay vào vòi nước dẫn từ mạch nguồn, cái lạnh buốt thấu xương khiến người ta rùng mình. Cô Nho nhóm bếp củi, đun ấm nước nóng. Ở đỉnh núi này, trong những ngày đông, việc đầu tiên mỗi sáng luôn là nhóm lửa, để xua đi cái lạnh và bắt đầu một ngày dài.

Thường thì tầm 7 giờ 30 phút, những đứa trẻ được bố mẹ đưa đến lớp. Nhưng có em đến sớm hơn, bởi bố mẹ phải đi làm. Năm học này, điểm trường Tà Chơ có 13 trẻ, từ 3 đến 5 tuổi. Ngày đông, có em mặc chưa đủ ấm, nước mũi chực chảy. Cô giáo pha nước ấm, giặt khăn, lau mặt cho từng trẻ. Có em còn mải theo mẹ, theo bà, chưa chịu vào lớp, cô lại nhẹ nhàng dỗ dành. Lớp học nay đã là gian nhà xây kiên cố, lợp mái tôn. “So với trước, thế này đã đẹp hơn rất nhiều”, cô Nho bảo.
Cô hiểu điều đó hơn ai hết, bởi mười năm trước, chính cô từng dạy học ở Tà Chơ trong lớp học gỗ ván cũ. Hôm nay, sàn lớp được trải xốp ấm, các góc lớp được cô tự tay trang trí sinh động, để lớp học bớt lạnh, bớt trống trải và gần gũi hơn với trẻ vùng cao.

Buổi trưa, khi ánh nắng hiếm hoi hửng lên, sương vẫn vảng vất nơi sân lớp. Đến giờ ăn, cô Nho lại nhóm bếp củi, nấu nồi canh rau cải với mì tôm. Mỗi em mang theo phần cơm gia đình chuẩn bị trong chiếc cặp lồng nhỏ. Bát canh nóng giúp bữa ăn của các em bớt lạnh. Mì tôm là quà của các đoàn thiện nguyện và cũng là thứ cô giáo cố gắng xin thêm để trẻ có được bữa trưa ấm áp hơn.
Chiều xuống, sương núi lại tràn ra, mỗi lúc một lạnh. Trẻ đã về nhà, chỉ còn lại cô giáo với sự tĩnh lặng của núi rừng. Cô lại nhóm bếp, nấu bữa cơm chiều. Bữa ăn của cô giáo cắm bản thường rất giản đơn với đồ khô, trứng - những thứ có thể để được nhiều ngày.
Đêm buông xuống nơi đỉnh núi. Sương hòa vào bóng tối, phả ra cái lạnh đặc trưng của vùng cao. Những ngày nhiệt độ hạ thấp, cái lạnh len lỏi, bủa vây. Bếp lửa lại được cô giáo nhóm lên, vừa để sưởi ấm, vừa là một trong hai nguồn sáng hiếm hoi nơi này.

Ngoài ánh lửa bếp, căn phòng nhỏ của cô Nho được thắp sáng bằng nguồn điện từ máy phát điện nước. Cô được ưu tiên đủ điện thắp một bóng đèn tuýp nhỏ. Còn mỗi khi ra ngoài, chiếc đèn pin luôn ở bên. Điện thoại được dùng tiết kiệm pin. Sóng điện thoại cũng chập chờn, bởi Tà Chơ nằm trong vùng lõm sóng. Đêm là khoảng thời gian vắng vẻ nhất. Trong cái lạnh và sự tĩnh lặng của núi rừng, nỗi nhớ nhà, nhớ hai con nhỏ càng dâng lên trong lòng, rõ rệt hơn bao giờ hết. Thương các con thiệt thòi không được mẹ chăm sóc mỗi ngày.
Nhưng giữa những nhọc nhằn ấy, cô Nho nhận lại được những điều bình dị mà quý giá từ tình người nơi bản núi.

Ngày học cuối cùng trước kỳ nghỉ Tết, phụ huynh góp gạo, cùng cô đồ xôi, giã bánh giầy cho các con ăn Tết và làm quà biếu cô giáo. Người vùng cao thương cô, chẳng có gì nhiều, chỉ là những gì họ có thể sẻ chia. “Có khi là mớ rau, cân gạo. Nhiều hôm chồng mình bận, phụ huynh còn đón mình lên bản. Dân bản ở đây tình cảm lắm!”, cô kể. Trong khó khăn, chính tình người ấy giúp cô giáo cắm bản có thêm động lực gắn bó với vùng đất này.

Thế nên, trong ước mong của cô Nho, cũng như dân trong thôn là Tà Chơ sớm có điện lưới quốc gia, để việc học tập, sinh hoạt của cô trò và người dân bớt thiệt thòi. Cô mong điểm trường nhỏ có thêm mái che, để lũ trẻ có không gian vui chơi. Và xa hơn, cô mong con đường lên Tà Chơ sẽ bớt hiểm nguy, để Tà Chơ thêm gần lại, để một ngày nào đó, cô có thể tự mình đi xe máy lên bản.

Có lẽ, một trong những ước mơ của cô giáo Nho sẽ sớm thành hiện thực khi Tà Chơ đang được triển khai dự án cấp điện từ điện lưới quốc gia. Những cột điện đang được dựng lên giữa sương núi. Những người đàn ông làm nhiệm vụ thi công công trình cũng phải ở lại bản để làm. Lên và ở lại với Tà Chơ như thế, anh Chiến - một trong những người thi công công trình đường điện bảo rằng, ngày đầu lên đây, anh từng muốn xin rút khỏi công trình. Ở lại đủ lâu, anh chỉ có thể nói một điều: Nể phục những cô giáo cắm bản như cô Nho.
Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/tren-dinh-nui-mo-suong-post893687.html











