Trọn niềm tin yêu
Vặn chiếc ra - đi - ô nhỏ dần nhưng ông Đinh không tài nào chợp mắt, trong đầu ông vẫn mường tượng quá khứ giống như một cuốn phim quay chậm về những năm tháng chiến tranh, những đồng đội của ông đã chiến đấu và anh dũng ngã xuống bên kia đất bạn Lào, giọt nước mắt nóng hổi lăn trên gò má… ông thấy mình thật may mắn. Bật bóng đèn ngủ lần giở những trang nhật ký đã nhuốm màu thời gian, ông coi đó như một báu vật… có thể hậu thế sẽ lãng quên nhưng cuốn nhật ký này như một minh chứng cho ông cùng đồng đội trọn niềm tin với Đảng, với nước. Thấy phòng làm việc của ông vẫn sáng đèn, bà Tâm - vợ ông gõ cửa:
-Muộn rồi ông còn chưa ngủ sao, ảnh hưởng đến sức khỏe đấy. Việc gì để mai rồi tính.
Bà hé cửa bước vào, thấy ông đang bề bộn với xấp tài liệu. Bà biết đây là bảo bối bất khả xâm phạm, bà khẽ khàng hỏi:
-Ông cần tôi sắp xếp gì không?
Ở với nhau đã trọn đời, bà luôn tôn trọng và thấu hiểu tính chồng. Người cựu chiến binh luôn trọng tình nghĩa, đã nói là làm, vì vậy bà luôn tôn trọng khoảng trời riêng của chồng.
Cái gì ông chia sẻ thì bà được phép biết còn những tài liệu riêng tư bà luôn trân trọng. Gia tài của ông quý nhất là tấm Huy Hiệu 55 năm tuổi Đảng và cuốn sổ nhật ký chiến trường. Hai bảo vật đó gắn liền với cuộc đời binh nghiệp, tạo nên phong cách nhà binh, tạo nên ông Đinh bằng xương bằng thịt gắn bó với bà cả cuộc đời.
Hai ông bà có thể ngồi cả buổi để nói về xuất xứ của cuốn nhật ký. Đối với người không hiểu giá trị tinh thần thì coi cuốn nhật ký như tấm giấy mờ đồ lại nhưng đối với chồng bà đó là vật quý giá thiêng liêng, được ông gìn giữ từ những năm tháng chiến tranh. Cầm cuốn nhật ký như thể chạm vào cảm xúc của tuổi thanh xuân, ở đó có hơi ấm tình đồng đội, ở đó có mùi thuốc súng pha lẫn máu và nước mắt. Niềm vui nỗi buồn như hòa quyện.
Ông và bà cùng bật thêm bóng đèn phòng để soi sáng hơn căn phòng làm việc, đeo chiếc kính lão ông ngập ngừng đọc cho bà từng trang, vẫn giọng trầm ấm:
Ngày... tháng 8 năm 1969
Ngày 14 tháng 8 năm 1969 mình có lệnh nhập ngũ. Mặc bộ quân phục của Quân đội nhân dân Việt Nam mình tự hào lắm. Mười bảy tuổi, cái tuổi nhiều mộng mơ nhưng đất nước còn giặc mình không được phép suy nghĩ cho cá nhân mình. Đơn vị mình huấn luyện tại Phú Bình –Thái Nguyên. Những ngày đầu tiên cảm giác nhớ nhà, nhớ quê ghê gớm, nhưng tình đồng chí- đồng đội đã nhanh chóng xua tan cảm giác đó...
...Mình được biên chế vào Sư đoàn 304. Đơn vị đã huấn luyện xong, mình và đồng đội đã biết sử dụng súng CKC và AK, biết ném lựu đạn... Bắt đầu cuộc hành quân ngược lên Tây Bắc. Đêm... đơn vị mình hành quân ra ga Phổ Yên xuống Gia Lâm, sau đó đi xà lan ngược sông Đà lên suối Rút, Chợ Bờ, hành quân bộ lên Mộc Châu, vượt Pha Đin lên Điện Biên, bổ sung vào C25, E335 tại Bản Tâu, sau vài ngày dừng chân chuẩn bị thực phẩm và vũ khí, mình và đơn vị bắt đầu hành quân sang nước bạn Lào để chiến đấu...
Ngày... tháng 4 năm 1970
Cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1970. Mùa mưa đã đến, Trung đoàn chỉ để lại một số ít quân ở lại để nắm địch, còn đại bộ phận lại hành quân về hậu cứ ở Điện Biên. Vì “mã hồi” nên lương thực, quân trang đã nhẹ đi rất nhiều do vậy chỉ hành quân mười tám ngày đã về đến bản Tâu cách Điện Biên hơn bốn cây số về phía Bắc đường đi Mường Pồn. Mình và anh em vừa nghỉ ngơi vừa tranh thủ huấn luyện nâng cao kỹ năng chiến thuật quân sự, nhận bổ sung thêm quân mới.
Ngày... tháng 9 năm 1970
Cuối tháng 9 năm 1970, sau những ngày ăn tăng khẩu phần, nhận quân trang, bổ sung súng đạn lại hành quân sang Lào. Lần này sang gần cửa khẩu Tây Trang, một điều đặc biệt làm mình nhớ mãi, đó là lệnh của cấp trên phải để hết những sổ sách giấy tờ có chữ Việt nhằm giữ bí mật cho trận đánh tới, cải trang đội mũ Pa Thét Lào (mũ vải trên có lưỡi trai). Mình và đồng đội tìm tôn, sắt để khắc họ tên, ký hiệu đơn vị đút vào túi áo, hoặc viết giấy cho vào túi bóng hàn lại, phòng khi hy sinh đơn vị biết làm thủ tục báo tử. Như một điềm báo trước đối với mình: trận chiến tới đây sẽ rất quyết liệt nhưng mình và đồng đội không ai nao lòng.
... Điều đặc biệt đối với bản thân mình đó là phải để lại quyển học bạ và tờ giấy chứng nhận đỗ đặc cách lớp 10. Sau mười năm đèn sách vất vả, nuối tiếc lắm, vứt đi thì không đành, ngẫm nghĩ mãi mình đã chặt tre vát ống, đút ngược quyển học bạ và tờ giấy chứng nhận, hy vọng sau chiến dịch hết mùa mưa hành quân quay về như năm trước, khi ấy cây tre đã chết mình sẽ kịp lấy lại giấy tờ.
... Chiến tranh thật nghiệt ngã, quyết liệt hơn mùa khô năm trước, đơn vị mình tiến sâu vào Mường Luông (Luông Pha Băng). Cầm cự quyết liệt với địch ở các trận Nà Tàn, Bản Xiêu giáp đường số 4. Mình chợt nghĩ mình đang ở rất xa, bên kia dòng sông Mê Kông là đất nước Thái Lan…
... Chiến dịch kết thúc mình vẫn lành lặn trở về. Đất Mẹ đã che chở cho mình. Nhưng lần hành quân về Điện Biên đi theo con đường khác. Vậy là quyển học bạ ghi chép kết quả hơn mười năm đèn sách và tờ giấy chứng nhận đỗ đặc cách lớp 10 đã vĩnh viễn ở lại nơi biên giới Việt-Lào. Thật tiếc...
Mùa khô năm 1970.
Mùa khô này có nhiều trận chiến hơn mùa khô năm trước. Những thắng lợi như: Nà Tàn, Bản Xiêu, Xăm Poi, Hội Dầy, Pác Pa, Nặm Tra. Mình nhớ như in câu ca của người dân nước Lào anh em: Cam Nặm Bạc, Sao Nặm Tra, Pia Nặm U, Mu Lào Sủng. Nặm Bạc nổi tiếng có vườn cam ngon của nhà vua nhưng do giữ nghiêm kỷ luật, không ai dám tự tiện ăn kể cả những quả tự rụng đều nhặt xếp vào gốc cây, trừ khi được chính người dân Lào mời ăn.
Mùa khô này để lại trong ký ức của mình những kỷ niệm khó quên. Mình đã bị sốt mê man bất tỉnh. Được đồng đội bón cho từng thìa cháo, lo cho từng viên thuốc. Ranh giới giữa cái sống và cái chết tưởng như cận kề, tình đồng đội đã sưởi ấm cho mình vượt qua gian khó. Vậy là đã kết thúc mùa khô thứ 2 ở đất Lào và lại về hậu cứ của Trung đoàn ở Điện Biên.
Ngày... tháng 11 năm 1971
Chưa hết mùa mưa ở Điện Biên đã thấy được tăng khẩu phần thức ăn, có thịt lợn nhiều hơn vậy là sắp đi chiến đấu. Lần này vũ khí trang bị khác hơn, đặc biệt là được phổ biến quán triệt kỷ luật ngồi trên xe ô tô, đi tàu, đi xe giữ bí mật đơn vị; đổi phiên hiệu đơn vị là Thảo Nguyên (Trung đoàn Thảo Nguyên- thuộc Sư đoàn 324 Quân khu 4). Trong cuộc hành quân lần này đã khắc một dấu ấn quan trọng trong đời mình đó là ngày 6 tháng 11 năm 1971 tại sân bay Nà Sản-Sơn La mình đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ trong sâu thẳm trái tim mình niềm vui sướng đến trào nước mắt, mình thầm gọi bố mình: Bố ơi từ nay con đã được đứng vào đội ngũ của bố và nguyện suốt đời đi theo ý nguyện và con đường mà bố đã lựa chọn (Bố mình cũng là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam). Tự hào biết mấy.
Ngày... tháng... năm 1972
Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, mình và đơn vị đã tham gia không biết bao nhiêu trận đánh. Mỗi tên núi, tên sông gắn liền với chiến công của một trận đánh. Chứng kiến biết bao sự hy sinh mất mát, đau xót lắm nhưng chiến tranh mà....Mình đã kết thúc ba năm từ 1969 đến 1972 được sống chiến đấu trên đất nước Lào. Mình nhớ từng cái hang đã che chắn bom thù cho mạng sống của mình; những đêm hành quân xuyên rừng, trèo đèo lội suối đến những lần thưởng thức hoa quả, múa hát Lăm Vông bên ánh lửa bập bùng... Thật là những câu chuyện huyền thoại.
Ngày... tháng 5 năm 1973
Mình được cử đi học Trường sỹ quan Lục quân tại Sơn Tây khóa 34. Đó là niềm hạnh phúc nhất của đời mình. Ngày 1 tháng 5 năm 1973 mình vinh dự duyệt binh trong đội hình khối sỹ quan Lục quân tham gia tham gia duyệt binh tại Ba Đình chào mừng ký Hiệp định Pari. Học xong mình được điều chuyển về công tác tại Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, Sư Đoàn 312, Quân đoàn 1, Trung đoàn 165.
...Trong huấn luyện ở Quân đoàn 1 mình đã tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.
Ngày... tháng 4 năm 1975
Thời điểm tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh có một sự kiện gắn bó suốt cả cuộc đời mình. Đó là hôm nhận lệnh tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh cũng là hôm nhận được thư của gia đình gọi về để cưới vợ. Nhận lệnh rồi một cảm giác bâng khuâng “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Mình nén cất lá thư vào ba lô theo đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày... tháng 9 năm 1975
Ngày 2 tháng 9 năm 1975 mình vinh dự được chọn cử tham gia duyệt binh tại Thủ đô Hà Nội, mừng ngày thống nhất đất nước, rực rỡ cờ hoa, mình không thể tả được cảm xúc của mình lúc này.
***
Hai ông bà ở bên nhau thời gian như ngưng đọng, đọc nhật ký chiến trường như một niềm vui của tuổi già, ông Đinh vẫn luôn duy trì thói quen ấy, những dòng chữ như một phần đời luôn được ông nâng niu. Bà Tâm thấy mình cũng cần có trách nhiệm để lan tỏa thêm tinh thần trân trọng lịch sử tới các con bằng kỷ vật mà gia đình đang nắm giữ. Nói đến kỷ vật… như nhắc bà nhớ đến tình nghĩa vợ chồng. Ngày ông đi bộ đội, hai nhà đã có lời hẹn ước, đêm hội làng tiếng sli dìu dặt như thể hiện nỗi lòng người đi kẻ ở.
Ngày ông về làng, bà Tâm không tin vào mắt mình, người chồng hiện hữu bằng xương bằng thịt, hòn tên mũi đạn đã không nhằm trúng ông, đó là phúc đức lớn đối với gia đình, dòng tộc, được tổ tiên che chở để ông trở về với bà thân thể còn lành lặn, bà e lệ nhìn ông như những người anh hùng. Ông cầm tay bà với những lời lẽ mộc mạc:
-Tôi đã về với em, chăm sóc em và bố mẹ hai bên chu toàn.
Bà đỏ mặt không nói được lời nào, nước mắt rưng rưng.
Cuốn phim quay chậm ấy luôn làm bà Tâm xúc động. Về phục viên, ông đã được phân công phụ trách xã. Người lính như ông đã đi qua trận mạc, đối đầu với bao khó khăn thử thách của cơ chế bao cấp, thiếu ăn thiếu mặc, đồng đội ông còn không ít người chịu cảnh thiếu trước hụt sau. Nhà ông Đinh cũng không khấm khá hơn đồng đội, con cái nheo nhóc, được cái bà Tâm vợ ông có việc làm nhà nước, đồng lương lúc ấy tuy eo hẹp nhưng cũng đỡ hơn đồng đội. Bà luôn tranh thủ thêm việc đồng áng để ông chuyên tâm việc làng xã.
Ông vất vả ngược xuôi chỉ đạo bà con trồng màu, tăng năng suất để tăng hệ số quay vòng của đất. Bà thương ông lam lũ suốt ngày gắn bó với ruộng đồng, khơi thông nguồn nước để làm thủy lợi dẫn từ trong lòng núi Than Muội. Bà bảo:
-Làm vừa sức thôi ông kẻo ốm lại khổ vợ con.
Ông cười hiền hậu:
-Lúc này, gian khổ mọi người mới cần tôi chung lưng đấu cật để xóa cái đói giảm cái nghèo. Trọn lời thề với Đảng, tôi không được chùn bước.
Hôm nay, ngồi bên nhau ôn lại một thời để nhớ, bà Tâm hỏi nhỏ:
-Ông có nhớ những ngày về phục viên, gánh thêm trọng trách công việc làng xã không?.
Ông khẽ gật đầu, từ tốn đáp: Đó là những năm tháng sau chiến tranh, cuộc sống ngày đó vất vả quá bà ạ. Rồi mọi việc cũng trôi qua một cách suôn sẻ nhờ tinh thần quả cảm của Bộ đội cụ Hồ đấy. Từ chỗ đồng đất quê hương chỉ làm một vụ sau đó đất quay vòng năm trồng hai vụ lúa, một vụ màu ăn chắc. Được ấm bụng, người dân đoàn kết, thuận hòa, chấp hành tốt chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Nhà nhà luôn động viên con em học hành để bớt khổ như đời cha mẹ.
- Nhưng tôi thấy ông và đồng đội còn làm được nhiều việc có ích cho cộng đồng… Bà Tâm ngập ngừng trao đổi.
-Phải đấy bà ạ, quan trọng nhất là tinh thần đồng đội chia ngọt sẻ bùi trong mọi hoàn cảnh, giúp nhau mái nhà che mưa nắng đến nhường nhau từng gói thuốc bổ, cái tình luôn sáng mãi trong lòng những cựu chiến binh chúng tôi.
…Trời đã khuya, những ngôi sao đêm nhấp nháy như chia sẻ niềm vui với vợ chồng ông Đinh. Trong nếp nhà quen thuộc, từ chiếc ra - đi - ô phát đi bài hát “Đảng là cuộc sống của tôi”, ông bà như thấy lòng mình trẻ lại.
Ông Đinh vẫn hào hứng:
-Bà thấy chưa? Đảng là chỗ dựa vững chắc cho cả dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khá. Bà Tâm nhìn chồng âu yếm, khích lệ:
- Nhờ có Đảng mà người dân quê mình hết đói nghèo đấy ông ạ.
Ông nắm tay bà chan chứa yêu thương:
- Với Đảng tôi mãi vẹn toàn niềm tin yêu. Cũng như tình nghĩa trăm năm son sắt mà tôi đã dành cho bà trong cuộc đời này.
Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/tron-niem-tin-yeu-5080426.html












