Trong kỷ nguyên lực lượng sản xuất mới: AI, chuyển đổi số, tự chủ chiến lược và chủ nghĩa xã hội Việt Nam

Chưa bao giờ vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lại đặt ra trực diện như hiện nay, khi công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, tổ chức xã hội, mô hình quản trị và cả đời sống tinh thần của con người.

Công nghệ mở ra những cơ hội phát triển chưa từng có, nhưng cũng tạo ra những thách thức mới chưa từng có. Và chính trong thời điểm ấy, các thế lực thù địch lập tức tung ra những luận điệu tưởng như hiện đại nhưng thực chất rất cũ: thời đại AI đã làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin lỗi thời; thời đại số buộc Việt Nam phải từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa; muốn phát triển nhanh thì phải “phi ý thức hệ”, phải đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, phải chấp nhận lệ thuộc vào các trung tâm công nghệ toàn cầu. Đó là một sự xuyên tạc cần bị bác bỏ dứt khoát.

Cần phải thấy rằng trí tuệ nhân tạo (AI) không tự nó quyết định một xã hội sẽ tiến bộ hơn hay bất công hơn. Chuyển đổi số không tự nó bảo đảm một quốc gia sẽ độc lập hơn hay lệ thuộc hơn. Công nghệ mới có thể làm tăng năng suất, nhưng không mặc nhiên làm tăng công bằng, hạnh phúc hay phẩm giá con người. Vấn đề quyết định nằm ở chỗ: công nghệ ấy phục vụ ai, do ai dẫn dắt, nằm trong quan hệ xã hội nào, gắn với mục tiêu phát triển nào và cuối cùng đem lại lợi ích cho ai. Chính ở điểm này, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin không hề lỗi thời, mà càng cho thấy giá trị sâu sắc. Bởi nó buộc chúng ta không được thần thánh hóa công nghệ, không được tách lực lượng sản xuất khỏi quan hệ sản xuất, không được tách tăng trưởng khỏi công bằng, tách hiện đại hóa khỏi độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.

Trong kỷ nguyên công nghệ, con tàu phát triển có thể chạy rất nhanh. Nhưng càng nhanh càng cần một chiếc la bàn đúng. Nếu không, tốc độ lớn hơn chỉ đồng nghĩa với rủi ro lớn hơn. Một quốc gia có thể sở hữu những nền tảng kỹ thuật hiện đại, nhưng vẫn tụt hậu về thể chế, lệ thuộc về công nghệ, méo mó về phân phối lợi ích và bất ổn về xã hội. Vì thế, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên lực lượng sản xuất mới không phải là giữ lấy những khẩu hiệu cũ, mà là giữ lấy chiếc la bàn tư tưởng, phương pháp luận để đất nước không lạc hướng giữa cơn lốc công nghệ toàn cầu.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định phải lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia làm động lực chính; phải xác lập mô hình tăng trưởng mới; phải phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xã hội số; phải tập trung đột phá vào những ngành công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ số. Điều đó chứng tỏ Đảng ta hoàn toàn không đứng ngoài cuộc cách mạng công nghệ mới, không né tránh AI, không xem chuyển đổi số như một phần việc kỹ thuật đơn thuần, mà đặt nó vào trung tâm chiến lược phát triển đất nước.

Nhưng điều quan trọng hơn là càng nhấn mạnh lực lượng sản xuất mới (AI, chuyển đổi số…), Đảng ta càng đồng thời khẳng định phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; phải phát huy tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường. Điều đó nói lên một sự thật rất rõ: tiến vào thời đại công nghệ cao không có nghĩa là đổi màu chính trị; phát triển lực lượng sản xuất mới không có nghĩa là từ bỏ nền tảng tư tưởng; hiện đại hóa đất nước không có nghĩa là hòa tan vào quỹ đạo phát triển của bất kỳ nước nào khác.

Chính ở đây xuất hiện các quan điểm xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Họ cố tình dựng lên những đối lập giả: hoặc có AI, hoặc có chủ nghĩa xã hội; hoặc có chuyển đổi số, hoặc có định hướng xã hội chủ nghĩa; hoặc có hội nhập, hoặc có tự chủ. Đó là một lối tư duy siêu hình, phiến diện và đánh tráo bản chất vấn đề. Việt Nam không chọn một trong hai cực ấy. Việt Nam lựa chọn phát triển nhanh nhưng bền vững; phát triển công nghệ nhưng gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó không phải sự chắp vá hay lưỡng lự mà là một lựa chọn chiến lược có tính nguyên tắc.

Muốn hiểu đúng kỷ nguyên lực lượng sản xuất mới, phải trở về với một nguyên lý căn bản: lực lượng sản xuất chỉ thật sự trở thành động lực giải phóng xã hội khi nó được đặt trong một quan hệ sản xuất và một thể chế phát triển phù hợp. Nếu AI chỉ phục vụ tích lũy lợi nhuận cực đoan, độc quyền dữ liệu, thao túng hành vi và khoét sâu bất bình đẳng, thì đó không phải tiến bộ xã hội mà là một dạng lệ thuộc mới. Nếu chuyển đổi số làm gia tăng khoảng cách số, đẩy một bộ phận người lao động ra ngoài lề, làm xói mòn quyền riêng tư, tạo ra những bất an mới mà không có cơ chế bảo vệ xã hội tương xứng, thì sự hiện đại về công cụ không đảm bảo văn minh về xã hội. Vì vậy, điều phải cảnh giác không chỉ là chậm công nghệ, mà còn là sùng bái công nghệ.

Trong bối cảnh đó, “tự chủ chiến lược” không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là một yêu cầu sống còn. Một quốc gia nếu chỉ tiêu dùng nền tảng vay mượn, phụ thuộc vào công nghệ lõi của người khác, lệ thuộc vào chuẩn dữ liệu của người khác, để cho thuật toán của người khác chi phối truyền thông, thương mại, giáo dục, hành chính và cả đời sống nhận thức của mình, thì rất khó nói tới độc lập, tự chủ theo nghĩa đầy đủ. Độc lập trong thời đại số không chỉ là độc lập về lãnh thổ, mà còn là năng lực làm chủ công nghệ, làm chủ dữ liệu, làm chủ nền tảng và làm chủ hướng đi phát triển của mình.

Chính vì thế, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường; yêu cầu ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng sáng tạo, tiến tới làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, đặc biệt là chip bán dẫn, AI và công nghệ số. Đó là một tầm nhìn rất tỉnh táo: hội nhập để phát triển, nhưng không lệ thuộc; tiếp thu công nghệ thế giới, nhưng không đánh mất năng lực tự chủ; đi cùng thời đại, nhưng không để thời đại kéo mình ra khỏi quỹ đạo phát triển của dân tộc. Nói cách khác, tự chủ chiến lược trong thời đại AI chính là một biểu hiện mới của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong điều kiện lịch sử mới.

Một điểm rất đáng chú ý là Đảng ta không nhìn phát triển công nghệ như câu chuyện thuần túy của máy móc, hạ tầng hay vốn đầu tư. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định rất rõ: phát triển lực lượng sản xuất mới phải gắn chặt với phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa như nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững; phải xây dựng nền giáo dục hiện đại; phải đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; phải thu hút, trọng dụng nhân tài; phải phát triển con người toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, trách nhiệm công dân, ý thức dân tộc và năng lực sáng tạo. Điều đó cực kỳ quan trọng. Bởi không một quốc gia nào có thể bước lên nấc thang công nghệ cao chỉ bằng việc nhập khẩu thiết bị hay sao chép mô hình phần mềm. Sức mạnh quyết định lâu dài vẫn là con người, thể chế và văn hóa phát triển.

Chính ở đây, định hướng xã hội chủ nghĩa bộc lộ chiều sâu nhân văn của nó. Trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới phải phục vụ con người, chứ không phải con người bị biến thành nô lệ của công nghệ, của AI. Chuyển đổi số phải nâng cao dân trí, dân sinh, dân quyền, chứ không chỉ làm đẹp các bảng xếp hạng công nghệ. Phát triển lực lượng sản xuất mới phải đi cùng với bảo đảm an sinh, công bằng và cơ hội phát triển cho mọi người, chứ không phải tạo ra một xã hội nơi thiểu số nắm dữ liệu, nắm công nghệ, nắm lợi ích còn đa số bị động đứng nhìn. Nếu tách công nghệ khỏi mục tiêu xã hội ấy, hiện đại hóa có thể trở thành một lớp vỏ hào nhoáng che đi những bất ổn sâu xa.

Thực tiễn 40 năm Đổi mới cho thấy con đường Việt Nam lựa chọn không phải một mơ tưởng xa vời. Việt Nam đã từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại và hội nhập; thừa nhận đa dạng hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế; làm rõ hơn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; từng bước hoàn thiện thể chế thúc đẩy chuyển đổi số và các mô hình kinh tế mới. Việt Nam không bước vào kỷ nguyên AI từ con số không, mà từ một nền tảng đổi mới lý luận và thực tiễn đã được tích lũy bền bỉ suốt nhiều thập niên. Đó là lợi thế rất quan trọng để chúng ta bước tiếp, nhưng không phải để tự mãn.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều điểm nghẽn: thể chế cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn bất cập; thiếu cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; cơ chế thử nghiệm chính sách mới chưa phù hợp; huy động nguồn lực xã hội cho khoa học, công nghệ còn yếu; đổi mới giáo dục, đào tạo chưa đồng bộ; nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu mới. Điều đáng nói là chính sự thẳng thắn không né tránh những hạn chế ấy cho thấy một thái độ khoa học và một tinh thần đổi mới thực chất của Đảng ta: nhận diện đúng điểm nghẽn để tháo gỡ, nhận diện đúng thách thức để hành động, nhận diện đúng khoảng trống để bứt phá.

Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, các thế lực thù địch không chỉ công kích bằng sự phủ nhận trần trụi, mà còn bằng những ngụy biện mang dáng vẻ “thời thượng”: nào là phát triển công nghệ thì phải “trung lập chính trị”; nào là muốn hấp thụ AI thì phải buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng; nào là trong thời đại dữ liệu thì lý tưởng xã hội chủ nghĩa chỉ còn là biểu tượng. Xét đến cùng, tất cả đều nhằm tách phát triển khỏi định hướng, tách công nghệ khỏi chủ quyền, tách hiện đại hóa khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Đường lối lãnh đạo của Đảng và thực tiễn phát triển đất nước đã cho thấy chỉ khi giữ vững định hướng, Việt Nam mới có thể tránh được cả hai cực đoan nguy hiểm hoặc là mù công nghệ, hoặc là sùng bái công nghệ. Chúng ta cần phát triển AI, đồng thời không chỉ không đánh mất con người mà chính là để phát triển con người; chúng ta cần chuyển đổi số mạnh mẽ gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; chúng ta tiếp tục hội nhập sâu rộng đồng thời giữ vững tự chủ chiến lược.

Có thể nói thời đại AI làm thay đổi công cụ, nhưng không xóa bỏ quy luật; chuyển đổi số làm biến đổi phương thức quản trị, nhưng không làm mất đi câu hỏi căn bản là phát triển vì ai; công nghệ mới mở ra năng suất mới, nhưng không tự quyết định xã hội sẽ công bằng hơn hay bất công hơn. Chính trong thời đại ngày nay, độc lập dân tộc, tự chủ chiến lược và định hướng xã hội chủ nghĩa càng không được phép mơ hồ, dao động, mà càng phải trở thành trục định hướng mạnh mẽ hơn, sáng rõ hơn.

Đó chính là lý do phải kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên lực lượng sản xuất mới: không phải để níu giữ quá khứ đã qua, mà để làm chủ tương lai; không phải để chống lại công nghệ, mà để đặt công nghệ vào đúng quỹ đạo phát triển của một nước Việt Nam độc lập, tự cường, hiện đại, nhân văn và xã hội chủ nghĩa./.

TS. Nguyễn Đức Hạnh

-----------------

Tài liệu tham khảo:

- Hồ Chí Minh, Toàn tập (gồm 15 tập), Nxb Chính trị quốc gia sự thật, H. 2011.

- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, H. 2026.

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/thoi-su-chinh-tri/202604/trong-ky-nguyen-luc-luong-san-xuat-moi-ai-chuyen-doi-so-tu-chu-chien-luoc-va-chu-nghia-xa-hoi-viet-nam-f1c4b45/