Trung Đông chuyển động khi ảo ảnh Mỹ tan biến
Trong một thời gian ngắn, những cuộc tấn công nhằm vào các đô thị, trung tâm lọc hóa dầu lớn và cả các căn cứ quân sự của Mỹ trong khu vực Trung Đông đã làm thế giới phải có cái nhìn khác hoàn toàn về vấn đề an ninh khu vực. Sự bất lực của chiếc ô an ninh Mỹ buộc các quốc gia Vùng Vịnh phải tự định đoạt vận mệnh bằng tư duy tự cường và đa phương hóa.
1.Trong suốt hơn 4 thập kỷ, cục diện địa chính trị Trung Đông vận hành dựa trên một định lý tưởng chừng như bất di bất dịch: Học thuyết Carter. Được Tổng thống Jimmy Carter tuyên bố vào năm 1980, học thuyết này khẳng định Mỹ sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp, kể cả vũ lực, để ngăn chặn bất kỳ thế lực bên ngoài nào muốn kiểm soát vùng vịnh Ba Tư. Đây chính là nền tảng của bản khế ước lịch sử “đổi dầu lấy an ninh” giữa Washington và các quốc gia Arab. Trong thời gian dài, hiệp ước này đã đem đến cho Mỹ và phương Tây một sự đảm bảo ổn định về năng lượng, tạo ra chiếc ô che chắn an toàn cho những đồng minh khu vực quyết định ngả theo Mỹ. Cho dù không hoàn toàn giải quyết được các vấn đề khu vực nhưng Học thuyết Carter đã thành công trong việc bảo đảm lợi ích của Mỹ và các đồng minh của mình trong một thời gian dài.

Học thuyết Carter đã đưa Mỹ vào vị trí trung tâm quyền lực của Trung Đông từ năm 1980.
Nhưng, khi quá nhấn mạnh vào việc duy trì ảnh hưởng của Mỹ, Học thuyết Carter cũng để lại những hệ quả mang tính cấu trúc rất khó giải quyết là khởi đầu cho một chu kỳ bạo lực và bất ổn sâu sắc kéo dài. Việc Mỹ quân sự hóa khu vực và chạy đua vũ trang, thành lập Bộ Tư lệnh Trung tâm (CENTCOM) và đổ hàng trăm tỷ USD vũ khí vào khu vực đã biến Vùng Vịnh thành khu vực có mật độ quân sự cao nhất hành tinh.
Sự hiện diện thường trực của quân đội nước ngoài không những không làm dịu đi nỗi sợ hãi, mà còn kích hoạt các cuộc chạy đua vũ trang khốc liệt giữa các quốc gia bản địa, biến khu vực này trở thành một trong những “kho” vũ khí lớn nhất trên hành tinh biến những mâu thuẫn nội bộ thành các cuộc chiến ủy nhiệm thảm khốc tại Yemen, Syria và Lebanon. Việc Mỹ tự trao quyền can thiệp quân sự để bảo vệ “lợi ích sống còn” đã dẫn đến các cuộc can thiệp quân sự trực tiếp, phá hoại các thiết chế nhà nước gây bất ổn lâu dài như tại Iraq.
Cùng với đó, Học thuyết Carter nhằm ngăn sức ảnh hưởng của Liên Xô đã thúc đẩy Mỹ tài trợ, vũ trang cho các lực lượng chống đối trong thời gian dài. Chính hành động này đã tạo ra mạng lưới khủng bố quốc tế Al-Qaeda và các nhóm Hồi giáo cực đoan mà sau này đã quay lại tàn phá chính Trung Đông và tấn công nước Mỹ vào ngày 11/9. Bằng cách bảo hộ tuyệt đối cho các chế độ quân chủ Arab và cô lập triệt để Iran, Mỹ đã làm sâu sắc thêm hố ngăn cách địa chính trị và tôn giáo trong khu vực. Tuy nhiên, theo thời gian, với những chuyển dịch địa chính trị khu vực và thế giới, sức mạnh của Mỹ tại khu vực đã không còn ở vị thế tuyệt đối nữa.
2.Sự sụp đổ của Học thuyết Carter không còn là một dự báo lý thuyết mà đã được phơi bày bằng thực tế không thể chối cãi. Hình ảnh về những đám cháy tại Dubai, khu phức hợp dầu mỏ Abqaiq và Khurais của Saudi Aramco hay chính những căn cứ quân sự của Mỹ đã phô bày tất cả. Các cuộc tấn công của Iran và lực lượng ủy nhiệm đã chứng minh rằng các hệ thống phòng thủ tên lửa tiên tiến của Mỹ như Patriot hay THAAD cũng bất lực trong việc tạo ra không gian an toàn cho Mỹ và đồng minh trong khu vực.
Chuyên gia phân tích Timothy Hopper của Hiệp hội nghiên cứu quốc tế Mỹ nhận định rằng, thực tế chiến trường đã thổi bay hoàn toàn bản khế ước “đổi dầu lấy an ninh” truyền thống. Khi các tổ hợp lọc dầu chiến lược bị ngưng trệ và các trung tâm đô thị phát đi còi báo động, thông điệp mà Tehran gửi đi đã vượt xa khuôn khổ một hành động răn đe quân sự. Đó là một lời khẳng định rằng cấu trúc an ninh do Mỹ dẫn đầu không còn khả năng bảo vệ các nền kinh tế vốn cực kỳ dễ bị tổn thương trước các cú sốc hạ tầng của Vùng Vịnh.
Sự bất lực mang tính hệ thống này diễn ra đồng thời với sự thay đổi căn bản trong lợi ích chiến lược của chính nước Mỹ. Nhờ cuộc cách mạng dầu đá phiến, Washington đã chuyển dịch từ một quốc gia phụ thuộc năng lượng thành nhà sản xuất dầu mỏ và LNG hàng đầu thế giới. Điều này đã đem đến lợi nhuận không nhỏ cho nước Mỹ nếu có bất ổn nguồn cung trong khu vực. Tỷ phú dầu đá phiến Mỹ, Harold Hamm, Chủ tịch Continental Resources, thậm chí còn thẳng thắn thừa nhận mức giá dầu cao kỷ lục kích hoạt bởi căng thẳng Trung Đông đang mang lại lợi nhuận biên lớn cho các nhà sản xuất nội địa Mỹ.

Vụ cháy nhà máy lọc dầu của Saudi Aramco đã khiến thị trường dầu mỏ toàn cầu chao đảo
Trong một báo cáo chiến lược của Hội đồng Quan hệ đối ngoại Mỹ, giới nghiên cứu còn nhận định rằng dù Vùng Vịnh vẫn giữ vai trò điều tiết giá năng lượng toàn cầu, nhưng động lực cốt lõi để Washington chấp nhận rủi ro chính trị và nhân mạng tại đây đã suy giảm khi trọng tâm chiến lược bị hút về phía Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương để đối phó với Trung Quốc. Sự thờ ơ của Mỹ trước các ranh giới đỏ bị vượt qua đã khiến các đồng minh khu vực rơi vào trạng thái bị động. Trong một tài liệu dự báo chiến lược của Diễn đàn Quốc tế Vùng Vịnh, các nhà phân tích lưu ý rằng các đối tác an ninh của Mỹ tại Vùng Vịnh hiện đang đối mặt với “nỗi sợ bị bỏ rơi” sâu sắc chưa từng có trước xu hướng vị kỷ quốc gia của các chính quyền Mỹ gần đây. Sự hoài nghi này đã biến chiếc ô an ninh từ một chỗ dựa vững chắc thành một ảo ảnh nguy hiểm.
3.Hệ quả tất yếu của việc tan biến ảo ảnh này là một bước chuyển dịch tư duy chiến lược mang tính sống còn của chính các nước Vùng Vịnh. Thay vì đóng vai trò là những quốc gia thụ động đón nhận sự bảo hộ, các cường quốc khu vực như Arab Saudi và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đang khẩn trương tái định hình học thuyết an ninh của mình dựa trên việc tự cường nội lực và đa dạng hóa tối đa đối tác.
Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), dù chi tiêu quốc phòng của các nước Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) vẫn chiếm tỷ trọng khổng lồ trong GDP, cấu trúc mua sắm đã có sự thay đổi mang tính bước ngoặt. Họ không còn độc quyền phụ thuộc vào các hợp đồng dài hạn của Mỹ vốn luôn đi kèm các điều kiện chính trị ngặt nghèo, mà đang chủ động tự chủ công nghệ quân sự và đa dạng hóa nguồn cung vũ khí từ các quốc gia khác.
Sự thay đổi này đang đặt nền móng cho một trật tự đa cực rõ nét tại Trung Đông, nơi có sự tham gia sâu sắc của các cấu trúc quyền lực mới như nhóm BRICS mở rộng. Trung Quốc, với tư cách là quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất của khu vực, đang ngày càng thể hiện vai trò kiến tạo cấu trúc an ninh mới không phải bằng sự áp đặt quân sự mà bằng ngoại giao đan xen lợi ích kinh tế, mà đỉnh cao là việc bảo trợ cho thỏa thuận bình thường hóa quan hệ giữa Arab Saudi và Iran vào năm 2023. Đồng thời, mối quan hệ chặt chẽ giữa các nước Vùng Vịnh với Nga trong khuôn khổ OPEC+ bất chấp các áp lực cấm vận từ phương Tây cho thấy các quyết sách chiến lược tại Riyadh hay Abu Dhabi hiện nay được thúc đẩy hoàn toàn bởi lợi ích quốc gia cốt lõi, thay vì hiệp ước mơ hồ với Washington.
Việc nhận thức được giới hạn quyền lực của Mỹ đã thúc đẩy một xu hướng ngoại giao thực dụng chưa từng có khi các quốc gia hai bên bờ vịnh Ba Tư vốn đối nghịch lại đang chủ động đối thoại trực tiếp với nhau để quản lý rủi ro thay vì tiếp tục áp dụng tư duy đối đầu răn đe kiểu cũ.
Nhìn một cách tổng thể, cục diện Vùng Vịnh hiện nay không còn là sân khấu độc diễn của một siêu cường duy nhất. Sự sụp đổ của Học thuyết Carter đã khép lại chương lịch sử của chủ nghĩa bảo hộ độc quyền phương Tây. Kỷ nguyên mới đang hình thành tại Vùng Vịnh là một kỷ nguyên đa cực, nơi an ninh được đảm bảo bằng thế cân bằng giữa các cường quốc toàn cầu, sự tự cường của các quốc gia bản địa và các dàn xếp ngoại giao đa phương mang tính thực chất. Ảo ảnh an ninh Mỹ có thể đã tan biến, nhưng sự biến mất của nó đang đánh dấu sự khởi đầu của một cấu trúc Trung Đông tự chủ, thực tế và bền vững hơn trước những biến động của dòng chảy lịch sử toàn cầu.
Nguồn CAND: https://cand.vn/trung-dong-chuyen-dong-khi-ao-anh-my-tan-bien-post813153.html











