Trung Quốc vượt Mỹ thành nhà tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam
Nửa đầu năm 2026, Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam nhiều nhất. Đáng chú ý, tôm tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh chung của ngành hàng.

Nửa đầu năm 2026, Trung Quốc đã chi gần 1,4 tỷ USD nhập khẩu thủy sản Việt Nam. Ảnh: Phạm Ngôn.
Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu thủy sản tháng 6 đã đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 21% so với tháng 5. Trong tháng 6, xuất khẩu thủy sản tới các thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Thái Lan, Canada đều tăng, trong đó xuất khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ tăng mạnh tới 44%, chỉ riêng xuất khẩu sang Anh và Brazil giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái.
Tính chung 6 tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt hơn 5,7 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sang nhiều thị trường đạt mức tăng trưởng trên 2 con số như: Trung Quốc tăng hơn 38%; Australia tăng 16%; Thái Lan tăng 18%;...
Đáng chú ý, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nước nhập khẩu thủy sản Việt Nam nhiều nhất thế giới. Cụ thể, nước này đã chi gần 1,4 tỷ USD mua các sản phẩm thủy sản Việt Nam, trong khi Mỹ chi gần 898 triệu USD (-1%). Nếu tính cả Hong Kong (Trung Quốc), kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đã đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tức tăng gần 38%. Đây là mức tăng nổi bật trong nhóm thị trường chính, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Trung Quốc đối với các sản phẩm tôm, cá tra, tôm hùm, nhuyễn thể, thủy sản sống và đông lạnh.
Trong khi đó, Nhật Bản xếp thứ 3 với mức chi gần 788 triệu USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ở chiều tích cực, Hàn Quốc cũng chi 419,4 triệu USD trong 6 tháng, tăng 9%; ASEAN chi hơn 380 triệu USD, tăng 16%; nhóm các thị trường khác đạt 1,1 tỷ USD, tăng 17%. Điều này cho thấy chiến lược đa dạng hóa thị trường đang phát huy tác dụng. Các thị trường gần, có nhu cầu ổn định và ít biến động hơn về chính sách thương mại đang góp phần bù đắp phần nào sự chững lại tại Mỹ, EU và Nhật Bản.
Trong nửa đầu năm 2026, tăng trưởng xuất khẩu thủy sản không chỉ đến từ sự phục hồi đơn thuần của nhu cầu, mà còn phản ánh khả năng xoay chuyển thị trường, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm và khai thác tốt hơn các khu vực có lợi thế gần về địa lý, chi phí và nhu cầu tiêu thụ ổn định.
Đây cũng là điểm được Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhấn mạnh trong bối cảnh các nhà nhập khẩu ngày càng thận trọng hơn. Theo đó, đơn hàng có xu hướng ngắn và chia nhỏ hơn, trong khi yêu cầu giá cạnh tranh hơn và kiểm soát chặt hơn về chất lượng, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc cũng như thời gian giao hàng.
Về sản phẩm, tôm tiếp tục là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của thủy sản Việt Nam. Trong tháng 6, xuất khẩu tôm đạt 445,9 triệu USD, tăng 21% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng, xuất khẩu mặt hàng này đạt 2,3 tỷ USD (+14%), chiếm 41% tổng kim ngạch thủy sản. Nhóm hàng này hiện có đóng góp lớn nhất vào mức tăng chung của toàn ngành, đồng thời vẫn là mặt hàng có vai trò quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng cả năm.
Bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký VASEP, nhận định tăng trưởng của tôm trong 6 tháng đầu năm có sự hỗ trợ lớn từ thị trường Trung Quốc và Hong Kong. Tuy nhiên, thị trường Mỹ vẫn là điểm nghẽn lớn. Dù xuất khẩu thủy sản sang Mỹ bật tăng trong tháng 6, riêng ngành tôm vẫn chịu sức ép cạnh tranh gay gắt từ Ecuador, Indonesia, Ấn Độ và các nguồn cung có lợi thế về giá thành, quy mô sản xuất và nguồn nguyên liệu. Bên cạnh đó, các rủi ro về thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, SIMP, MMPA cùng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc tiếp tục làm tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.
Bên cạnh rủi ro thị trường, cước vận tải container toàn cầu đang nổi lên là một thách thức lớn đối với xuất khẩu thủy sản trong nửa cuối năm. Thủy sản là ngành có tỷ trọng vận chuyển container lạnh cao, yêu cầu nghiêm ngặt về nhiệt độ, lịch tàu và thời gian giao hàng. Vì vậy, mọi biến động về cước biển, phụ phí container lạnh, phụ phí nhiên liệu, phí bảo hiểm, tắc nghẽn cảng hoặc thiếu chỗ trên tàu đều tác động trực tiếp đến giá thành và khả năng giao hàng của doanh nghiệp.
Trong nửa cuối năm, VASEP khuyến nghị ngành thủy sản cần đồng thời giữ đà tại các thị trường tăng trưởng như Trung Quốc, ASEAN, Hàn Quốc; củng cố tuân thủ tại Mỹ, EU, Nhật Bản. Các doanh nghiệp phải có kế hoạch kiểm soát tốt chi phí đầu vào và logistics, đồng thời tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng. Trong một thị trường với đơn hàng ngắn hơn, giá cạnh tranh hơn và yêu cầu tuân thủ cao hơn, năng lực quản trị chi phí, logistics và rủi ro thị trường sẽ quyết định sức bền của xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong phần còn lại của năm 2026.














