Trung tâm Dữ liệu quốc gia là hạ tầng chiến lược quan trọng của quốc gia số
Theo Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Trung tâm Dữ liệu quốc gia được định vị là hạ tầng chiến lược đặc biệt quan trọng của quốc gia số, giữ vai trò nền tảng trong phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: Lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, trọng tâm là phát triển lực lượng sản xuất mới, kinh tế số, kinh tế xanh và tuần hoàn…
Trong bối cảnh đó, Trung tâm Dữ liệu quốc gia được xác định là hạ tầng chiến lược đặc biệt quan trọng trong xây dựng quốc gia số, phát triển kinh tế số. Liên quan đến nội dung này, phóng viên VOV.VN đã có cuộc trao đổi với Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương – Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương – Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an. (Ảnh: Trọng Phú)
PV: Thưa Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Trung tâm Dữ liệu quốc gia được định vị vai trò như thế nào trong chiến lược phát triển quốc gia số và nền kinh tế số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, Trung tâm Dữ liệu quốc gia được định vị là hạ tầng chiến lược đặc biệt quan trọng của quốc gia số, giữ vai trò nền tảng trong phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Trung tâm Dữ liệu quốc gia là hạt nhân tích hợp, kết nối liên thông 20 cơ sở dữ liệu quốc gia và 116 cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các bộ, ngành, địa phương; thực hiện chuẩn hóa, đồng bộ hơn 6.300 thuộc tính dữ liệu cốt lõi, từng bước hình thành CSDL quốc gia tập trung, thống nhất, dùng chung. Trên nền tảng đó, Trung tâm Dữ liệu quốc gia cung cấp nguồn dữ liệu lõi, dữ liệu tin cậy phục vụ đổi mới sáng tạo, phát triển trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính, thương mại điện tử và các ngành công nghệ mới; đồng thời là hạ tầng thiết yếu bảo đảm chủ quyền số, an ninh, an toàn dữ liệu quốc gia, góp phần hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Cùng với đó, Nghị quyết Đại hội XIV đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách huy động hiệu quả các nguồn lực để phát triển đồng bộ các công trình hạ tầng chiến lược của quốc gia, trong đó có đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi, Trung tâm Dữ liệu quốc gia và các hạ tầng dữ liệu quốc gia quan trọng khác, đồng thời thúc đẩy các mô hình kinh tế đột phá như đặc khu kinh tế, đặc khu công nghệ, khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế.
PV: Trong quá trình xây dựng Trung tâm Dữ liệu quốc gia, đâu là những nguyên tắc cốt lõi để bảo đảm đồng bộ, hiện đại, tiết kiệm và có khả năng mở rộng lâu dài?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Trong quá trình xây dựng Trung tâm Dữ liệu quốc gia, nguyên tắc cốt lõi được quán triệt xuyên suốt là bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung” theo chỉ đạo xuyên suốt của Ban Chỉ đạo Trung ương tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, được cụ thể hóa trong Quy định số 05. Theo đó, dữ liệu phải phản ánh đúng thực tiễn, đầy đủ theo phạm vi quản lý nhà nước; được chuẩn hóa, làm sạch và cập nhật thường xuyên; thống nhất về cấu trúc, tiêu chuẩn và được chia sẻ, khai thác hiệu quả giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Việc tổ chức, kết nối và vận hành Trung tâm Dữ liệu quốc gia được triển khai thống nhất theo khung kiến trúc dữ liệu quốc gia quy định tại Nghị định số 278/2025/NĐ-CP về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc trong hệ thống chính trị; đồng thời bảo đảm phù hợp, đồng bộ với khung kiến trúc tổng thể quốc gia số và khung kiến trúc dữ liệu quốc gia tại Quyết định số 2439/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 214/NQ-CP của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ chuyển đổi số quốc gia.
Cách tiếp cận này góp phần xây dựng hạ tầng dữ liệu hiện đại, tiết kiệm, tránh đầu tư trùng lặp, có khả năng mở rộng lâu dài, đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu tại lễ ra mắt Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
PV: Cơ chế quản lý, vận hành và chia sẻ dữ liệu giữa Trung tâm Dữ liệu quốc gia với các bộ, ngành, địa phương hiện nay được thiết kế ra sao để vừa thông suốt vừa bảo đảm kỷ cương, kỷ luật dữ liệu?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Hiện nay, cơ chế quản lý, vận hành và chia sẻ dữ liệu giữa Trung tâm Dữ liệu quốc gia với các bộ, ngành, địa phương được thiết kế trên nền tảng hệ thống pháp luật về dữ liệu đã cơ bản được hoàn thiện, bảo đảm vừa thông suốt, linh hoạt, vừa giữ vững kỷ cương, kỷ luật dữ liệu. Trung tâm Dữ liệu quốc gia giữ vai trò hạt nhân tích hợp, điều phối và giám sát dữ liệu dùng chung trên phạm vi toàn quốc; các bộ, ngành, địa phương là chủ quản dữ liệu, chịu trách nhiệm về chất lượng, tính đầy đủ, tính cập nhật và an toàn dữ liệu theo đúng thẩm quyền.
Trên cơ sở đó, Cổng Dịch vụ công quốc gia được tổ chức vận hành theo mô hình tập trung, “một cửa số” duy nhất, khai thác trực tiếp dữ liệu từ Trung tâm Dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành để phục vụ người dân, doanh nghiệp theo nguyên tắc dữ liệu thay giấy tờ, một lần cung cấp – nhiều lần sử dụng. Đồng thời, Hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ được kết nối, khai thác dữ liệu tổng hợp, thời gian thực từ Trung tâm Dữ liệu quốc gia, bảo đảm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cho công tác chỉ đạo, điều hành vĩ mô.
Bên cạnh đó, Sàn dữ liệu quốc gia, trong đó Cổng dữ liệu quốc gia tại Trung tâm dữ liệu quốc gia là cấu phần trung tâm được thiết kế là không gian vận hành và khai thác giá trị dữ liệu. Thông qua Cổng dữ liệu quốc gia, các danh mục dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở, dữ liệu cung cấp có thu phí và các tập dữ liệu được phép khai thác được công bố, quản lý và đưa vào sử dụng theo quy định, phục vụ đổi mới sáng tạo, nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và thúc đẩy kinh tế số.
Toàn bộ quá trình chia sẻ, khai thác dữ liệu đều được kiểm soát chặt chẽ thông qua cơ chế phân quyền, phân cấp, xác thực, lưu vết và giám sát, qua đó bảo đảm dữ liệu được lưu thông thông suốt nhưng vẫn giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu quốc gia.
PV: Trung tâm Dữ liệu quốc gia đang triển khai những giải pháp nào để bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu, bảo vệ chủ quyền dữ liệu quốc gia trong bối cảnh gia tăng các nguy cơ tấn công mạng và rò rỉ thông tin?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Trong bối cảnh các nguy cơ tấn công mạng và rò rỉ dữ liệu ngày càng gia tăng, Trung tâm Dữ liệu quốc gia đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu và bảo vệ vững chắc chủ quyền dữ liệu quốc gia. Ngày 20/1/2026, Bộ Công an đã ký ban hành Kế hoạch số 40/KH-BCA-C12 triển khai công tác bảo đảm an ninh, an toàn Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1, được xác định là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
Song song với đó, Trung tâm Dữ liệu quốc gia triển khai xây dựng và vận hành Hệ thống quản lý nhà nước về dữ liệu, làm công cụ tập trung để theo dõi, giám sát toàn bộ vòng đời dữ liệu trong hệ thống chính trị, từ tạo lập, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ đến khai thác và sử dụng dữ liệu. Hệ thống này cho phép quản lý thống nhất danh mục dữ liệu, trạng thái kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kiểm soát phân quyền, lưu vết khai thác và đánh giá mức độ tuân thủ kỷ cương, kỷ luật dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương.
Trên cơ sở đó, Trung tâm Dữ liệu quốc gia phối hợp chặt chẽ với Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) triển khai các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu theo đúng quy định của pháp luật về an ninh mạng; áp dụng mô hình bảo vệ nhiều lớp, giám sát tập trung 24/7, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ mất an toàn thông tin. Cách tiếp cận tổng thể này vừa bảo đảm dữ liệu được kết nối, khai thác hiệu quả phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, vừa giữ vững kỷ cương, kỷ luật dữ liệu và chủ quyền số quốc gia trong kỷ nguyên số.

Cán bộ, chiến sĩ tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
PV: Việc phân loại, chuẩn hóa, làm sạch và kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia được thực hiện như thế nào nhằm nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Hiện nay Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ hành lang pháp lý về dữ liệu; đồng thời đang xây dựng khung kiến trúc dữ liệu quốc gia và kiến trúc dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương. Bộ Công an đã ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia và thiết lập từ điển dữ liệu dùng chung, bảo đảm các hệ thống nhà nước sử dụng thống nhất một “ngôn ngữ dữ liệu”. Trên nền tảng đó, dữ liệu trước hết được phân loại thành dữ liệu gốc, dữ liệu chủ, dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng và dữ liệu dùng chung; mỗi trường dữ liệu được gán nhãn về nguồn tạo lập, mức độ tin cậy, bảo mật và phạm vi khai thác để xác định rõ trách nhiệm quản lý và chia sẻ.
Sau khi phân loại, dữ liệu được chuẩn hóa theo mã định danh và danh mục quốc gia, đối soát, làm sạch và ký số để trở thành bản ghi điện tử có giá trị pháp lý. Các hệ thống sau đó được kết nối qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, cài đặt tác tử dữ liệu tự động chuẩn hóa và đồng bộ theo thời gian thực, bảo đảm dữ liệu luôn “đúng – đủ – sạch – sống – thống nhất – dùng chung”. Nhờ vậy, cơ quan nhà nước chuyển từ quản lý dựa trên tổng hợp báo cáo sang quản lý bằng dữ liệu thời gian thực, giúp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, giảm thủ tục hành chính và phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn.
PV: Theo ông, đâu là những thách thức lớn nhất hiện nay trong phát triển và khai thác dữ liệu số quốc gia, đặc biệt là về thể chế, công nghệ và nguồn nhân lực?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Trong quá trình xây dựng và khai thác dữ liệu số quốc gia, chúng tôi nhận thấy thách thức không nằm ở một khâu riêng lẻ mà là sự chuyển đổi tổng thể từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu. Các khó khăn tập trung ở ba nhóm chính: thể chế, công nghệ và nguồn nhân lực.
Trước hết, về thể chế, dữ liệu là loại tài sản mới nên nhiều quy định pháp luật trước đây được xây dựng theo hồ sơ giấy chưa theo kịp thực tiễn số. Quyền tạo lập, khai thác, chia sẻ và định giá dữ liệu giữa các cơ quan còn chồng chéo; cơ chế chia sẻ dữ liệu liên ngành chưa thật sự đồng bộ; nhiều nơi vẫn tồn tại tâm lý “quyền quản lý gắn với quyền sở hữu dữ liệu”, dẫn đến tình trạng cục bộ, khép kín. Ngoài ra, cơ chế kinh tế dữ liệu, thị trường dữ liệu và mô hình cung cấp dịch vụ dữ liệu công vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Thứ hai, về công nghệ, dữ liệu hiện phân tán tại nhiều hệ thống được xây dựng qua nhiều giai đoạn, sử dụng chuẩn khác nhau nên khó kết nối và làm sạch. Khối lượng dữ liệu rất lớn, thay đổi liên tục, đòi hỏi hạ tầng xử lý thời gian thực, an toàn cao và khả năng phân tích thông minh. Đồng thời, nguy cơ tấn công mạng, rò rỉ thông tin và phụ thuộc công nghệ bên ngoài cũng đặt ra yêu cầu cao về bảo đảm chủ quyền dữ liệu và an ninh hệ thống.
Thứ ba, về nguồn nhân lực, thiếu hụt đội ngũ chuyên gia quản trị dữ liệu là thách thức lớn nhất. Nhiều cơ quan có cán bộ CNTT nhưng chưa có cán bộ chuyên trách về quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu và khoa học dữ liệu. Nhận thức về dữ liệu ở một số nơi vẫn coi là sản phẩm phụ của hệ thống thông tin, chưa xem là tài sản chiến lược, dẫn tới việc đầu tư, vận hành và khai thác chưa tương xứng.
Tóm lại, phát triển dữ liệu quốc gia không chỉ là bài toán kỹ thuật mà là quá trình thay đổi tư duy quản trị. Khi hoàn thiện thể chế, làm chủ công nghệ và hình thành đội ngũ nhân lực dữ liệu chuyên nghiệp, dữ liệu mới thực sự trở thành nền tảng cho Chính phủ số và kinh tế số.
PV: Việc ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong Trung tâm Dữ liệu quốc gia được định hướng ra sao nhằm nâng cao năng lực dự báo, phân tích và hoạch định chính sách?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Luật Trí tuệ nhân tạo đã xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc phát triển, khai thác và ứng dụng AI an toàn, có trách nhiệm. Trên cơ sở đó, Trung tâm Dữ liệu quốc gia đang triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo và hệ thống dữ liệu phục vụ AI nhằm hình thành hạ tầng tri thức dùng chung cho Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội.
Trước hết, Trung tâm xây dựng kho dữ liệu lớn đã được chuẩn hóa, gán nhãn và kiểm soát chất lượng, bảo đảm dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống”. Dữ liệu từ các lĩnh vực dân cư, kinh tế, xã hội và chuyên ngành được tích hợp theo thời gian thực, tạo nền tảng cho việc huấn luyện, kiểm thử và đánh giá các mô hình AI một cách minh bạch, tin cậy.
Trên nền tảng đó, các công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo được ứng dụng để phát hiện xu hướng, nhận diện rủi ro và mô phỏng chính sách. Hệ thống có thể hỗ trợ dự báo biến động dân số, thị trường lao động, an sinh xã hội, giao thông, y tế hoặc các vấn đề kinh tế – xã hội khác, giúp cơ quan quản lý có thông tin sớm trước khi tình huống phát sinh.
Quá trình khai thác được thực hiện theo nguyên tắc AI phục vụ quyết định của con người: mô hình chỉ cung cấp phân tích, cảnh báo và kịch bản dự báo; quyết định cuối cùng vẫn thuộc cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, dữ liệu phục vụ AI được kiểm soát truy cập, ẩn danh khi cần thiết và lưu vết khai thác để bảo đảm quyền riêng tư.
Tóm lại, việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo không chỉ nhằm phát triển công nghệ mà hướng tới hình thành năng lực quản trị dựa trên dữ liệu và dự báo, giúp Nhà nước chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa sớm và hoạch định chính sách chủ động.
PV: Trong tầm nhìn đến năm 2030 và xa hơn, Trung tâm Dữ liệu quốc gia kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi căn bản nào đối với quản trị quốc gia, phục vụ người dân và doanh nghiệp, hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả?
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương: Trong tầm nhìn đến năm 2030 và xa hơn, Trung tâm Dữ liệu quốc gia không chỉ là hạ tầng kỹ thuật mà sẽ trở thành nền tảng vận hành của Nhà nước số – nơi mọi hoạt động quản lý được thực hiện dựa trên dữ liệu, minh bạch và có thể kiểm chứng.
Trước hết, về quản trị quốc gia, Nhà nước sẽ chuyển từ phương thức điều hành dựa trên báo cáo hành chính sang điều hành theo dữ liệu thời gian thực. Lãnh đạo các cấp có thể theo dõi tình hình kinh tế – xã hội trên một hệ thống thống nhất, được phân tích và dự báo sớm bằng công nghệ số, qua đó nâng cao chất lượng hoạch định chính sách và khả năng phản ứng trước biến động.
Đối với người dân và doanh nghiệp, Trung tâm hướng tới nguyên tắc “không yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có”. Thủ tục hành chính được tự động hóa trên môi trường số, hồ sơ được điền sẵn từ các cơ sở dữ liệu, dịch vụ công được cung cấp cá thể hóa theo nhu cầu. Người dân chỉ cần định danh một lần để sử dụng toàn bộ dịch vụ của Nhà nước, còn doanh nghiệp có thể khai thác dữ liệu hợp pháp để phát triển dịch vụ và đổi mới sáng tạo.
Xa hơn, Trung tâm góp phần hình thành kinh tế dữ liệu: dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung và dịch vụ dữ liệu trở thành nguồn lực sản xuất mới, thúc đẩy hệ sinh thái số phát triển nhưng vẫn bảo đảm chủ quyền dữ liệu và quyền riêng tư.
Tóm lại, mục tiêu của Trung tâm Dữ liệu quốc gia là tạo ra một sự thay đổi căn bản: từ Nhà nước quản lý thủ tục, Nhà nước quản trị xã hội bằng dữ liệu; từ phục vụ thụ động phục vụ chủ động, dự báo trước; qua đó xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả.
PV: Xin cảm ơn ông.












