Trường hợp nào được hỗ trợ tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và nội dung, mức hỗ trợ cụ thể?

* Bạn đọc Mã Thị Thơm ở xã Chư A Thai, tỉnh Gia Lai, hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, những trường hợp nào được hỗ trợ tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và nội dung, mức hỗ trợ cụ thể?

* Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại khoản 1, Điều 26 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, người lao động thuộc một trong các đối tượng quy định tại khoản 3, Điều 22 Luật Việc làm được hỗ trợ tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, bao gồm: Người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người khuyết tật; người cao tuổi; người dân tộc thiểu số; người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; thanh niên tình nguyện hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội; trí thức trẻ tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác tại khu kinh tế-quốc phòng; đối tượng khác do Chính phủ quyết định căn cứ tình hình kinh tế-xã hội.

Nội dung và mức hỗ trợ cụ thể như sau:

a) Hỗ trợ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, mức hỗ trợ tối đa 300.000 đồng/người/lần;

b) Hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian thực tế tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia là 50.000 đồng/người/ngày;

c) Hỗ trợ tiền đi lại cho người lao động từ nơi ở hiện tại đến địa điểm đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo định mức như sau: 200.000 đồng/người/lượt đi và về đối với người lao động cư trú cách địa điểm đánh giá từ 15km trở lên; 300.000 đồng/người/lượt đi và về đối với người lao động cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn cách địa điểm đánh giá từ 5km trở lên;

d) Hỗ trợ tiền dịch vụ tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo mức thu thực tế của tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, mức hỗ trợ tối đa 4.000.000 đồng/người/lần theo từng bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia của từng nghề.

Người lao động thuộc một trong các đối tượng nêu trên chỉ được hỗ trợ chính sách này một lần.

* Bạn đọc Nông Văn Duẩn ở xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn, hỏi: Theo tôi được biết, hành vi vi phạm quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tới đây bị phạt rất nặng. Đề nghị tòa soạn cho biết cụ thể quy định này.

* Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại Điều 22 Nghị định số 98/2026/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 16-5-2026. Cụ thể như sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em trừ trường hợp bị buộc phải tạm thời cách ly trẻ em hoặc trẻ em được chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật;

b) Cha mẹ, người chăm sóc trẻ em không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, không thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em hoặc bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, cắt đứt quan hệ tình cảm và vật chất với trẻ em hoặc ép buộc trẻ em không sống cùng gia đình, trừ trường hợp bị buộc phải tạm thời cách ly trẻ em hoặc trẻ em được chăm sóc thay thế theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em có hành vi cố ý bỏ rơi trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

QĐND

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/ban-doc/thu-ban-doc/truong-hop-nao-duoc-ho-tro-tham-gia-danh-gia-cap-chung-chi-ky-nang-nghe-quoc-gia-va-noi-dung-muc-ho-tro-cu-the-1037599