Truy xuất nguồn gốc - Nền tảng nâng giá trị nông sản
Không chỉ dừng lại ở tiêu chí 'ăn ngon, ăn sạch', người tiêu dùng ngày càng yêu cầu sản phẩm phải có đầy đủ thông tin về nguồn gốc xuất xứ, quy trình sản xuất, thu hoạch, chế biến và vận chuyển. Truy xuất nguồn gốc vì thế đang trở thành xu thế tất yếu, được ví như 'tấm hộ chiếu số' để nông sản tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và chinh phục những thị trường khó tính.
Minh bạch từ đồng ruộng đến bàn ăn
Truy xuất nguồn gốc nông sản là hoạt động theo dõi, nhận diện và truy vết thông tin sản phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến và phân phối. Với lợi thế là địa phương có diện tích và sản lượng cây ăn quả lớn, Bắc Ninh có nhiều tiềm năng để xuất khẩu nông sản.

Du khách mua sản phẩm OCOP tại Ngày hội Bánh chưng Vân.
Theo thống kê của ngành Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có gần 54 nghìn ha cây ăn quả. Trong đó, cam, bưởi chiếm hơn 8.600 ha, sản lượng đạt hơn 80 nghìn tấn/năm; vải thiều khoảng 30 nghìn ha, sản lượng từ 165-200 nghìn tấn/năm. Ngoài ra còn nhiều loại cây ăn quả khác như nhãn, táo, ổi, na, dứa… cùng các loại cây lương thực, rau màu được sản xuất theo hướng chất lượng và an toàn.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và tính minh bạch của nông sản ngày càng khắt khe. Các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc đều đặt ra những quy định chặt chẽ về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, nhật ký sản xuất, chứng nhận VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ… Nếu không đáp ứng yêu cầu truy xuất rõ ràng, nông sản khó có thể mở rộng thị trường, thậm chí có nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng.
Những năm gần đây, tỉnh đã từng bước triển khai các giải pháp ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc nông sản. Nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp chủ động gắn mã QR trên sản phẩm, giúp người tiêu dùng dễ dàng tra cứu thông tin về vùng trồng, quy trình sản xuất và các chứng nhận chất lượng. Qua đó, nông sản địa phương từng bước tạo dựng được niềm tin trên thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Minh chứng rõ nét là vụ vải thiều năm 2025, tổng doanh thu từ quả vải và các dịch vụ phụ trợ đạt hơn 6.245 tỷ đồng, đây là mức cao nhất từ trước đến nay. Để đạt kết quả này, công tác tổ chức sản xuất được triển khai sớm, tập trung vào chất lượng và an toàn thực phẩm. Ngành Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn nông dân áp dụng quy trình VietGAP, GlobalGAP, sử dụng phân bón sinh học, thuốc bảo vệ thực vật an toàn. Toàn tỉnh đã mở rộng mã số vùng trồng lên 240 mã với diện tích 17.421 ha, phục vụ xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, Thái Lan và Nhật Bản; số cơ sở đóng gói đạt 41 cơ sở, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu.
Bên cạnh đó, việc hỗ trợ tổ chức, cá nhân áp dụng truy xuất nguồn gốc được quan tâm. Tính đến tháng 1/2026, Bắc Ninh có 782 sản phẩm đạt OCOP từ 3 sao trở lên, 100% sản phẩm OCOP đều áp dụng truy xuất nguồn gốc. Năm 2025, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 140 triệu đồng/ha; giá trị sản xuất trồng trọt đạt 25.041 tỷ đồng, tăng 12,3% so với năm 2024. Tuy nhiên, phần lớn nông sản vẫn tiêu thụ ở dạng tươi, tỷ lệ xuất khẩu còn thấp, cho thấy dư địa tăng trưởng còn lớn nếu làm tốt công tác chế biến và truy xuất minh bạch.
Hoàn thiện “lý lịch điện tử” cho nông sản
Nhận thức rõ vai trò của truy xuất nguồn gốc trong phát triển nông nghiệp hiện đại, tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 38/KH-UBND ngày 21/8/2025 thực hiện Đề án “Triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc” giai đoạn 2026-2030 với tổng kinh phí hơn 16 tỷ đồng. Đây được xác định là nội dung quan trọng gắn với chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương. Mục tiêu của kế hoạch là xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ, thống nhất; từng bước áp dụng công nghệ số trong quản lý chuỗi sản xuất - tiêu thụ, hướng tới minh bạch hóa toàn bộ quá trình từ “đồng ruộng đến bàn ăn”.
Theo Kế hoạch giai đoạn 2026-2030, tỉnh tập trung triển khai truy xuất nguồn gốc trước hết đối với sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp an toàn và những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu. Các nhóm sản phẩm như rau an toàn, cây ăn quả, sản phẩm chăn nuôi, thủy sản và lâm sản được ưu tiên xây dựng hệ thống truy xuất từ vùng nguyên liệu, sản xuất, thu hoạch đến sơ chế, đóng gói và phân phối. Mỗi sản phẩm được gắn mã QR, cho phép người tiêu dùng và đối tác dễ dàng tra cứu thông tin về cơ sở sản xuất, địa điểm vùng trồng, quy trình canh tác, thời gian thu hoạch và các chứng nhận chất lượng liên quan.
Thực tế cho thấy, dù đã có nhiều sản phẩm chủ lực, song hạn chế lớn của nông sản địa phương vẫn là tính không đồng đều về chất lượng và khả năng chứng minh nguồn gốc. Không ít lô hàng gặp khó khăn trong tiêu thụ do thiếu thông tin về vùng trồng, quy trình sản xuất hoặc chưa đáp ứng yêu cầu truy xuất của đối tác, trong khi hàng rào kỹ thuật của các thị trường xuất khẩu ngày càng được siết chặt.
Ông Đặng Văn Tặng, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: “Truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu của thị trường, công cụ để tổ chức lại sản xuất theo hướng bài bản, minh bạch, mà còn góp phần nâng cao giá trị, sức cạnh tranh của nông sản. Đây là hướng đi tất yếu để nông nghiệp của tỉnh phát triển bền vững và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu”.
Từ thực tế đó, người nông dân phải thay đổi thói quen canh tác; hợp tác xã, doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo chuỗi; cơ quan quản lý tăng cường giám sát bằng dữ liệu số... để xây dựng "lý lịch điện tử" của sản phẩm minh bạch nhằm chinh phục khách hàng. Ông Nguyễn Văn Thiết, Giám đốc Hợp tác xã Vải sớm Phúc Hòa chia sẻ: "Hợp tác xã có 20 thành viên tâm huyết với nghề trồng vải. Chúng tôi tự hào với quả ngọt đặc trưng, tiêu biểu của địa phương nên nỗ lực gìn giữ thương hiệu, nâng chất lượng bằng quy trình chăm sóc an toàn. Hiện nay các hộ đều có mã số vùng trồng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu".
Theo Kế hoạch giai đoạn 2026-2030, tỉnh tập trung triển khai truy xuất nguồn gốc trước hết đối với sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp an toàn và những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu. Các nhóm sản phẩm như rau an toàn, cây ăn quả, sản phẩm chăn nuôi, thủy sản và lâm sản được ưu tiên xây dựng hệ thống truy xuất từ vùng nguyên liệu, sản xuất, thu hoạch đến sơ chế, đóng gói và phân phối. Mỗi sản phẩm được gắn mã QR, cho phép người tiêu dùng và đối tác dễ dàng tra cứu thông tin về cơ sở sản xuất, địa điểm vùng trồng, quy trình canh tác, thời gian thu hoạch và các chứng nhận chất lượng liên quan.
Một trong những giải pháp công nghệ được quan tâm là ứng dụng các nền tảng số trong quản lý chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc, tiêu biểu như nền tảng BS Chain. Đây là nền tảng cho phép ghi nhận, lưu trữ toàn bộ thông tin về vùng nguyên liệu, quá trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, vận chuyển và phân phối sản phẩm; dữ liệu được quản lý tập trung, minh bạch. BS Chain không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã mà còn cung cấp công cụ cho cơ quan quản lý trong giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm, thẩm định sản phẩm OCOP, VietGAP và xử lý sự cố khi cần thiết.
Thực hiện Kế hoạch số 38, từ nay đến năm 2030, UBND tỉnh giao các sở, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ tổ chức, cá nhân áp dụng truy xuất nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Tỉnh nghiên cứu, ban hành quy định hướng dẫn ứng dụng công nghệ Blockchain, AI, Big Data, “hộ chiếu số” sản phẩm và nhãn điện tử; đồng thời đề xuất cơ chế tài chính, ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ truy xuất nguồn gốc. Đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo, tập huấn kỹ năng ghi chép nhật ký điện tử, sử dụng mã QR, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói cho người sản xuất.
Với lộ trình cụ thể, truy xuất nguồn gốc đang từng bước trở thành nền tảng quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững. Khi mỗi sản phẩm nông sản đều có thể “kể câu chuyện” của mình bằng dữ liệu, giá trị gia tăng không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở uy tín và thương hiệu trên thị trường.













