Truyện ngắn: Đêm sông nước trăng soi

Đêm xuống, rừng tràm chìm trong bóng tối. Một mùi hương dịu dàng thanh tao thoang thoảng trong không gian, làm say ngất lòng lữ khách. Con sông nhỏ dài ngoằng cựa mình trong bóng tối. Chúng tôi ngồi lặng đi trong căn chòi lá bé xíu bên rìa rừng tràm giữa đêm rừng thanh vắng, không gian im ắng tưởng như có thể nghe được tiếng phập phồng trong lồng ngực của ông nội tôi, tiếng cờ bắp lép bép nở ngoài đám dừa nước mé sông và tiếng chuyến tàu cuối cùng trở về xóm chợ U Minh cũ…

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Trời vẫn còn quang đãng. Tính ngồi vân vê bông hoa mua tím trên tay, buột miệng:

- Trăng lên, bọn mình bơi xuồng dọc theo dòng sông này, vừa trò chuyện, vừa hát “Dạ cổ hoài lang”, khéo nữa thì kể chuyện bác Ba Phi… Chắc vui lắm, chị Vy ha!

Tôi bụm miệng cười, khe khẽ:

- Trời, người gì mà lãng mạn thấy sợ, hệt như trong mấy phim xưa vậy. Dân văn vẻ có khác!

Cả đám cười rố lên trước ý tưởng của Tính. Nếu trời không mưa, hẳn đó là một trải nghiệm vui mà có lẽ suốt đời tôi chẳng bao giờ quên được. Đám người trẻ chúng tôi đang quây quần với những niềm vui chung, những tò mò pha lẫn háo hức về cái xứ U Minh muỗi mòng, đỉa vắt này, chỉ ông nội tôi đang ngồi tư lự bên ngọn lửa bập bùng thoảng mùi củi bình bát với một niềm riêng sâu kín. Ông nội tôi vừa cho thêm củi vào trong bếp un, vừa thều thào, giọng thâm trầm như một nốt lặng của điệu buồn phương Nam da diết:

- Bìm bịp kêu thắt thẻo, thế nào một lát nữa trời cũng đổ mưa. Mưa to là khác!

Tôi nhìn ông nội, lòng thoáng lo âu. Tôi không mong trời đổ mưa, bởi đây là lần đâu tiên tôi dẫn đám người trẻ mà tôi yêu từ thành thị xa xôi về với vùng đất cực Nam của đất nước - miền đất của sông nước, của bao huyền thoại dân gian được ấp iu trong lòng đất phèn mặn bao đời nuôi lớn cây tràm, cây đước. Tôi không muốn cơn mưa làm đứt đoạn cuộc vui, huống hồ ở cái xứ U Minh mù tít này, nắng cũng chợt nắng mà mưa cũng chợt mưa, như cuộc đời, không sao đoán định trước được. Đan Thanh - cô gái nhỏ nhất trong nhóm không mấy thích mưa, đã trùm chiếc mền cũ sờn ngang cổ và chìm vào giấc ngủ sâu từ khi trời chập choạng tối.

Chị Kẹo ngồi thắt tóc cho Vy trên phản, bên ngọn đèn dầu leo lét, mắt chị Kẹo sáng rực lên như vừa nảy ra một ý tưởng nào đó thú vị. Nhai cho hết vụn bánh mì trong miệng, chị Kẹo reo lên:

- Dân chơi chớ sợ mưa rơi. Mưa thì mình đi soi bù tọt, bắt cua đồng, đốt lửa nhâm nhi tới sáng. Mấy khi về đây, trải nghiệm nào cũng quý hết ha mấy đứa.

Tính gật gù. Thấy vậy, tôi cũng đỡ lo lắng. Lần đầu tiên đưa lữ khách về quê xứ, tôi chỉ e họ bảo xứ này buồn chán, tù đọng, muỗi mòng, rồi lại chẳng bao giờ về đây một lần nào nữa…

Trong căn chòi lá nhỏ nhưng ấm áp bên bìa rừng, khói từ bếp un tỏa ra mịt mờ rồi từng sợi khói chui qua kẽ lá, len lỏi bay lên bầu trời đêm không sao. Mắt Tính nhìn xa xăm, trong mắt có cả một vùng trời sao lấp lánh...

***

Trời bắt đầu đổ mưa. Ban đầu là mưa rào xạc xào mái lá nhưng đủ để đánh thức Đan Thanh thức dậy. Một lúc sau, những hạt mưa nặng trĩu bắt đầu rơi. Đan Thanh và chị Vy ngồi co rúm bên bếp un, tay huơ huơ trên muội than cho ấm, nói với nhau một câu chuyện riêng nào đó mà tôi và Tính không nghe thấy. Chị Kẹo vẫn nằm trên võng đong đưa, miệng lẩm nhẩm bài “Dạ cổ hoài lang” cho “đúng điệu”, đúng bối cảnh. Đắm mình trong không gian này, bên rừng tràm, bên dòng sông, trong cơn mưa dầm thấm đất, mà hát mấy câu “Đường dầu sai ong bướm. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang. Đêm luống trông tin bạn. Ngày mỏi mòn như đá vọng phu...” thì còn gì hợp hơn.

Tôi lặng nhìn bóng dáng gầy gò, đôi vai gầy nặng trĩu như thể gồng gánh nhiều cơ cực trong cuộc đời của ông tôi. Ông nội tôi - người già một đời gắn bó với sông với nước, với những cánh rừng tràm bất tận này. Ở cái phương Nam đầy nắng gió này, sông nào ông tôi cũng qua, rừng nào ông tôi cũng đến. Có những đợt đi gác kèo ong xa, mỗi lần về, ông tôi mang về lỉnh kỉnh bao nhiêu là tàn ong ứa đầy mật ngọt. Lâu rồi không gặp ông, tôi thấy ông tôi già hơn nhiều. Ông tôi giờ như ngọn đèn trước gió, như cây tràm già héo hon vẫn nỗ lực dùng sức bám chặt mảnh đất quê xứ trong cơn giông vần vũ...

Giông đến. Tiếng gió rít qua rặng tràm, tiếng sóng ngoài sông vỗ dồn dập vào bờ đất. Chị Vy nhìn qua song cửa đầy âu lo. Căn chòi lá bỗng chốc rung lên từng đợt. Đan Thanh níu lấy tay chị Vy, còn chị Kẹo đương hát bỗng ngưng lại, ngồi dậy và nhìn ra xa xôi:

- Tháng này không lẽ có bão? - Chị Kẹo nói vống.

Tôi sực nhớ, chiều nay, khi đi ngang qua xóm, bất chợt tôi nghe radio đưa tin về cơn bão ghé ngang qua mũi đất cuối cùng của Tổ quốc. Khi ấy trời đang nắng đẹp, tôi nghĩ đó chỉ là một dự báo không thực nên cũng chẳng quan tâm. Tính rời chỗ tôi, bước ra ngoài hiên. Ông nội tôi vẫn ngồi ở đó, lặng lẽ nhìn ra màn đêm bão bùng, tay mân mê một vết sẹo dài trên đầu gối. Tính ngồi xuống cạnh ông tôi, khe khẽ rót gần đầy một ly trà nóng. Loại trà sâm dứa thơm phức. Nhâm nhi.

- Ông nội vào trong đây ngồi, ngoài đó lạnh - Chị Vy líu ríu.

Ông nội tôi dặng hắng một tiếng rõ. Tiếng ông át cả tiếng mưa đêm xạc xào. Giọng ông trầm khàn:

- Khổ thiệt chứ! Lần đầu mấy đứa về quê chơi mà bão. Ông trời làm dữ quá! Chắc không lâu, bão sẽ êm. Đừng có lo!

Tính xoa xoa bờ vai gầy guộc của ông nội tôi. Nhìn Tính, tôi thấy mình đâu đó trong hình bóng Tính, của những ngày xa xưa, rất xưa. Khi đó, má tôi đi làm xa, chỉ có tôi và ông ở nhà. Đêm đêm tôi cũng quấn quít lấy ông nội, nghe ông nội kể chuyện đời xưa, hát “Lục Vân Tiên”, hát “Dạ cổ hoài lang”. Trong căn chòi lá cũ kỹ này, tôi đã ở bên ông qua bao mùa bão gió...

Bất chợt, Tính hỏi ông nội tôi - điều mà có lẽ chị Kẹo, chị Vy và cả Đan Thanh cũng đang thắc mắc:

- Nội ơi, vết sẹo dài ở chân nội... - Tính ngập ngừng rồi nói tiếp - ... Sao nội nhất quyết bám trụ lấy căn chòi lá bên bìa rừng tràm này vậy nội. Nội có tuổi rồi, ở đây một mình nguy hiểm, tụi con lo lắng lắm!

Bấy giờ, cơn bão đã tan. Trời vẫn còn mưa nhưng là cơn mưa nhỏ, tí tách. Sông lại êm đềm và rừng khuya lại dậy hương bông tràm sau bão. Căn chòi lá bỗng chốc im phăng phắc. Đan Thanh nhoẻn miệng cười, chị Kẹo đung đưa trên võng, còn chị Vy vẫn ngồi khép nép bên bếp un. Tất cả lặng đi như đang đợi chờ một câu trả lời từ nội.

Ông nội tôi khẽ nhấp một ngụm trà sâm dứa ấm nóng Tính vừa rót, khói trà bốc lên nghi ngút, quyện vào khói bếp mịt mờ, làm nhòe đi gương mặt hằn sâu những nếp nhăn sương gió của nội. Ông nội tôi đưa bàn tay thô ráp, chai sần sờ lên vết sẹo trên gối, rồi cười hiền, giọng thẳm sâu nương theo tiếng gió rít qua rặng tràm:

- Ừ... Đó là ký ức mà ông không bao giờ quên. Trận bão năm xưa chứ đâu con, lúc thằng nhỏ này - ông nội chỉ tay về phía tôi - ra đời. Đỏ hỏn. Năm đó, bão tràn qua xóm Mũi, quét sạch sành sanh. Nhà nội bay mất tiêu, xóm làng tan hoang hết ráo. Vết sẹo này là do nội bị nhánh tràm gãy đâm trúng khi cố bơi xuồng ra rạch cứu lấy chú Út đang chới với giữa dòng nước xiết. Lúc đó, nội tưởng mình nằm lại dưới dòng sông này luôn rồi...

Lặng đi một lúc, ông nội tôi tiếp lời:

- Cuối cùng, tất cả đều bình an, chỉ riêng chú Út nó là nằm lại dưới đáy sông này. Vĩnh viễn...

Nước mắt tôi ướt nhòe. Tôi chạy ra hè nhà, khẽ mím môi để không bật lên thành tiếng. Mắt Tính cũng đỏ hoe. Ông nội tôi dừng lại một nhịp, mắt nhìn đăm đăm ra màn đêm đen kịt ngoài kia, nơi những ngọn tràm vẫn vững vàng sau bão. Ông nội tôi nói tiếp, giọng như tiếng lòng của đất, của rừng:

- Nội không rời đất này vì nội là dân sông nước, bám rừng, uống nước sông, sao bỏ xứ mà đi cho đành. Con người ta thường lạ lắm, lúc nghèo khó thì nương tựa vào rừng, đến khi khá giả chút thì lại chê rừng mình muỗi mòng, tù đọng. Nội ở lại đây là để giữ cái hồn của đất quê, giữ rặng tràm này cho tụi con có đường mà tìm về khi mệt mỏi...

***

Sau bão, trời trong. Sau mưa, trời quang đãng. Ông bà mình nói không hề sai.

Đêm hôm đó, sau cơn mưa, chúng tôi bám ngón chân chặt xuống sình lầy cho khỏi ngã, ra bến sông. Trăng lên bất ngờ. Chưa bao giờ tôi thấy trăng lên nhanh sau cơn mưa vần vũ. Sông nước lại hiền hòa. Chúng tôi lần lượt bước xuống chiếc xuồng nhỏ, tôi một đầu, Tính một đầu, cùng bơi xuồng ngắm sông đêm như kế hoạch mà Tính đã định trước khi cơn bão ập đến. Gió miền biển thổi về, cái phù sa nồng nàn của đất bãi bồi và thoang thoảng hương bông tràm thanh khiết, dịu nhẹ gieo vào lòng người một cảm giác bình yên thăm thẳm...

Giữa cái thênh thang của U Minh đêm khuya lắc, chị Kẹo hắng giọng. Rồi, một tiếng ca ngọt lịm cất lên dưới trăng, tiếng chị trôi theo dòng nước:

“... Chàng hỡi chàng có hay. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây. Bao thuở đó đây sum vầy. Duyên sắc cầm đừng lợt phai...”.

Trong ánh sáng lung linh của đêm trăng U Minh, tôi thấy khóe mắt chị tôi lấp lánh. Điệu nhạc lòng của tiền nhân từ trăm năm trước, mang theo nỗi lòng đợi chờ, thủy chung và cả cái dẻo dai, bền bỉ của con người trước giông bão cuộc đời, dường như đã chạm vào nơi sâu nhất trong tâm hồn mỗi lữ khách thành thị. Khúc hát da diết ấy không làm cho đêm xứ quê buồn hơn mà nó đưa chúng tôi về gần nhau dưới bóng mát bạt ngàn của rừng tràm và vòm trời quê hương cố xứ...

Hoàng Khánh Duy .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/truyen-ngan-dem-song-nuoc-trang-soi-457016.html