TS.LS Đặng Văn Cường: Cần phải “thanh lọc” hiện tượng "giang hồ mạng" bằng cả pháp luật, công nghệ, giáo dục và văn hóa ứng xử

Gần đây, hiện tượng “giang hồ mạng” tiếp tục xuất hiện với những nội dung gây sốc, lệch chuẩn và thu hút lượng lớn người xem trên mạng xã hội. Đáng chú ý, sự tương tác và lan truyền của người dùng đang góp phần khiến những nội dung này tiếp tục được chú ý và phổ biến. Điều này không chỉ đặt ra vấn đề về quản lý không gian mạng mà còn tiềm ẩn những tác động đến nhận thức, hành vi và hệ giá trị của người dùng, đặc biệt là giới trẻ.

Tiến sĩ - Luật sư Đặng Văn Cường

Tiến sĩ - Luật sư Đặng Văn Cường

Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường - Trưởng Văn phòng Luật sư Chính pháp, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội đã có những những nhận định làm rõ hiện tượng này dưới góc độ pháp lý, trách nhiệm các bộ phận liên quan và đề xuất các giải pháp để “làm sạch” không gian mạng.

PV: Thưa Luật sư, “giang hồ mạng” là cụm từ được nhắc đến khá nhiều trên báo chí và truyền thông thời gian gần đây. Theo ông, hiện tượng này nên được hiểu như thế nào và dựa vào những tiêu chí nào để có thể nhận diện?

TS.LS Đặng Văn Cường: “giang hồ mạng” không phải là một thuật ngữ pháp lý, không phải một tội danh hay một khái niệm được luật hóa, đây chủ yếu là cách gọi mang tính xã hội, báo chí để chỉ một nhóm nhân vật xây dựng hình ảnh, danh tiếng và sức ảnh hưởng trên không gian mạng theo phong cách, ngôn ngữ hoặc hành vi mang màu sắc “giang hồ”, thường gắn với những nội dung gây sốc, gây tranh cãi, khoe tiền bạc, sức mạnh, các mối quan hệ xã hội hoặc thể hiện hành vi đi ngược với chuẩn mực pháp luật, đạo đức.

Việc nhận diện phải dựa vào cách thức họ xây dựng hình tượng, nội dung họ thường xuyên sản xuất, phương thức thu hút người xem và cách họ chuyển hóa sức ảnh hưởng đó thành lợi ích kinh tế hoặc quyền lực xã hội.

Theo tôi, có thể nhận diện hiện tượng này thông qua một số dấu hiệu dưới đây:

Thứ nhất, xây dựng hình tượng “giang hồ” như một thương hiệu cá nhân. Những phát ngôn gây sốc, khoe tiền, khoe tài sản, thể hiện quan hệ với những người có danh tiếng hoặc sử dụng ngôn ngữ, hành vi mang tính thị uy để tạo sự chú ý.

Thứ hai, lấy tranh cãi và sự phản ứng của cộng đồng làm công cụ tạo tương tác. Trong môi trường mạng xã hội, một nội dung càng gây phẫn nộ, càng gây tò mò thì càng có khả năng được bình luận, chia sẻ và đề xuất đến nhiều người. Vì vậy, đôi khi “tai tiếng” cũng được biến thành một loại tài sản truyền thông.

Thứ ba, sức ảnh hưởng được chuyển hóa thành tiền thông qua livestream bán hàng, quảng cáo, tiếp thị liên kết, kinh doanh sản phẩm, kêu gọi tài trợ, hoạt động từ thiện hoặc các hình thức thương mại khác.

Bản chất của vấn đề không phải là “giang hồ” hay “mạng xã hội” riêng lẻ, mà là sự kết hợp giữa thuật toán của nền kinh tế chú ý, tâm lý đám đông, danh tiếng ảo và khả năng kiếm tiền từ sự nổi tiếng.

PV: Thưa Luật sư, thời gian qua, dư luận liên tục xôn xao trước việc cơ quan chức năng khởi tố hàng loạt vụ việc liên quan đến các đối tượng “giang hồ mạng” như: Huấn Hoa Hồng, Hải Sapa, Phú Lê… Dưới góc độ pháp lý, ông đánh giá như thế nào về sự việc này?

TS.LS Đặng Văn Cường: Những vụ án hình sự gần đây xử lý đối với Huấn hoa hồng, Phú lê, Hải Sa Pa.... cho thấy sự quyết tâm của cơ quan chức năng trong việc làm trong sạch, thanh lọc môi trường mạng xã hội. 

Sau những vụ việc này thì mạng xã hội sẽ không còn là đất để cho các đối tượng “giang hồ mạng” lộng hành, xây dựng những hình ảnh xấu xí, kiếm tiền bất chấp trên mạng xã hội.

Trong tháng 8/2026, liên tiếp xuất hiện những vụ án liên quan đến các nhân vật có lượng người theo dõi lớn. Chẳng hạn, Bùi Xuân Huấn, tức Huấn Hoa Hồng, bị khởi tố trong vụ án liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; Lê Văn Phú, tức Phú Lê, bị khởi tố về các tội liên quan đến kế toán và hóa đơn; Vũ Hoàng Hải, tức Hải Sapa TV, bị khởi tố về lừa dối khách hàng; còn Phạm Tuấn và Nguyễn Văn Quang, tức rapper CCMK, cùng các bị can khác bị điều tra về hành vi đưa trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông. 

Những người bị xử lý là những người nổi tiếng trên mạng xã hội, điều đáng chú ý là họ nổi tiếng bằng thuật toán, bằng sự tò mò của người xem và thậm chí nổi tiếng một cách bất chấp từ việc kinh doanh sự nổi tiếng và không tuân thủ pháp luật về quản lý kinh tế, đây là công thức chung của những người vừa bị xử lý hình sự thời gian qua. 

Những vụ án này cho thấy sức ảnh hưởng trên mạng xã hội đang ngày càng gắn với hoạt động kinh doanh và những giao dịch có giá trị kinh tế rất lớn.

Danh tiếng trên mạng không phải là lá chắn pháp lý. Ngược lại, khi một người sử dụng danh tiếng, lượng người theo dõi và sự tin tưởng của cộng đồng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thì chính sức ảnh hưởng đó có thể trở thành một yếu tố làm cho hậu quả của hành vi nghiêm trọng hơn về mặt xã hội.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Một người có vài triệu người theo dõi cũng không được hưởng “đặc quyền” pháp lý; nhưng đồng thời, họ cũng không thể bị xử lý chỉ vì nổi tiếng hoặc có hình tượng gây tranh cãi. Cơ quan tố tụng phải chứng minh hành vi, lỗi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo đúng quy định pháp luật.

PV: Thực tế có những trường hợp “giang hồ mạng” lợi dụng sức ảnh hưởng để bán hàng giả, hàng kém chất lượng và quảng cáo sản phẩm sai sự thật. Các đối tượng này đang được xử lý theo những khung pháp lý nào? Theo luật sư, các chế tài hiện nay đã đủ răn đe chưa?

TS.LS Đặng Văn Cường: Đây là vấn đề cần phân biệt rất rõ bởi bán hàng giả, lừa dối khách hàng, quảng cáo gian dối và kinh doanh hàng kém chất lượng là những hành vi vi phạm pháp luật khác nhau. Không phải cứ một người nổi tiếng quảng cáo sản phẩm sai sự thật thì đương nhiên phạm tội hình sự. Người kinh doanh thiếu đạo đức, thiếu ý thức tuân thủ pháp luật thì có thể thực hiện các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, lừa dối người tiêu dùng, vi phạm về kế toán, trốn thuế. Đây là một chuỗi các hành vi liên tục trong kinh doanh để biến những người theo dõi họ trên mạng xã hội trở thành những con mồi, tạo thành nền kinh tế chú ý, mang đến những lợi nhuận khổng lồ từ sự nổi tiếng trước đó.

Dưới góc độ pháp lý thì sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối và lừa dối người tiêu dùng đều là những hành vi vi phạm pháp luật. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hậu quả, giá trị hàng hóa, thủ đoạn và các điều kiện luật định, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có giá trị tương ứng với hàng thật từ 30.000.000 đồng trở lên thì người thực hiện hành vi sản xuất buôn bán hàng giả có thể bị xử lý bằng chế tài hình sự quy định trong Bộ luật Hình sự, trong đó có các tội danh về sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 Bộ luật Hình sự hoặc tội sản xuất buôn bán hàng giả là lương thực thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm theo Điều 193 Bộ luật Hình sự.

Nếu hành vi dùng thủ đoạn gian dối trong quá trình bán hàng, làm cho khách hàng tin sai sự thật để giao tài sản gây thiệt hại cho khách hàng từ 5.000.000 đồng trở lên thì hành vi này được xác định là hành vi lừa đảo khách hàng và người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật này có thể xem xét tội Lừa dối khách hàng theo Điều 198 Bộ luật Hình sự.

Đối với quảng cáo sai sự thật, pháp luật cũng có cả chế tài xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự. Điều 197 Bộ luật Hình sự quy định về tội Quảng cáo gian dối, nhưng điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự không phải cứ quảng cáo sai là bị hình sự hóa; điều luật đặt ra điều kiện người thực hiện đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Hành vi quảng cáo gian dối là hành vi chỉ dừng lại ở việc truyền đạt thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để người tiêu dùng tiếp cận, không bao gồm hành vi bán hàng. Nếu quảng cáo đồng thời bán hàng mà nội dung quảng cáo gian dối, hàng hóa không đúng với nội dung quảng cáo thì bị xử lý về tội lừa dối khách hàng.

Đặc biệt, từ ngày 1/1/2026, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo năm 2025 đã tạo ra một bước tiến quan trọng khi quy định cụ thể hơn về “người chuyển tải sản phẩm quảng cáo”, trong đó có những người trực tiếp quảng cáo, khuyến nghị, xác nhận sản phẩm trên mạng. Người chuyển tải phải tuân thủ quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cung cấp tài liệu liên quan khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật khi nội dung quảng cáo không bảo đảm yêu cầu. 

Đáng chú ý hơn, đối với người có ảnh hưởng, pháp luật đặt ra nghĩa vụ cao hơn: phải xác minh độ tin cậy của người quảng cáo, kiểm tra tài liệu liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; nếu chưa sử dụng hoặc chưa hiểu rõ về sản phẩm thì không được giới thiệu; đồng thời phải thông báo về việc quảng cáo ngay trước và trong khi thực hiện quảng cáo. 

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cũng quy định trách nhiệm của người có ảnh hưởng và bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng, trong đó có yêu cầu về tính chính xác, đầy đủ và minh bạch về việc nhận tài trợ.

Như vậy, tôi cho rằng khung pháp luật hiện nay đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là việc chuyển từ tư duy “người bán chịu trách nhiệm” sang xác định trách nhiệm của cả những người tham gia chuỗi truyền thông và ảnh hưởng đến quyết định mua hàng.

Tuy nhiên, chế tài có đủ sức răn đe hay không không chỉ phụ thuộc vào mức tiền phạt hoặc mức hình phạt tù, mà quan trọng hơn là khả năng phát hiện, chứng minh và xử lý kịp thời.

Nếu một người kiếm được hàng chục tỷ đồng từ việc sử dụng danh tiếng để bán hàng nhưng khi bị phát hiện chỉ chịu một khoản phạt rất nhỏ thì hiệu quả răn đe sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu cơ quan chức năng truy được dòng tiền, xác định được doanh thu, lợi nhuận bất chính, thiệt hại của người tiêu dùng và xử lý đúng người, đúng hành vi thì sức răn đe sẽ rất lớn.

Nói cách khác, không phải cứ tăng mức phạt là giải quyết được vấn đề; quan trọng là phải làm cho người vi phạm hiểu rằng lợi ích thu được từ hành vi vi phạm sẽ không thể lớn hơn cái giá pháp lý mà họ phải trả.

PV: Thưa ông, những khoảng trống nào trong khung pháp lý hiện nay đang gây khó khăn cho việc kiểm soát sự lan truyền của các nội dung lệch chuẩn trên mạng xã hội?

TS.LS Đặng Văn Cường: Về mặt lý luận thì vật chất quyết định ý thức, tồn tại xã hội. Trong mối quan hệ tương quan đó thì pháp luật là một trong các hình thái ý thức xã hội, nó phụ thuộc vào tồn tại xã hội và luôn đứng sau tồn tại xã hội. Bởi vậy khi trong xã hội xuất hiện ra những vấn đề mới phát sinh cần phải có luật điều chỉnh thì khi đó nhà nước sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. 

Ngày nay sự phát triển của mạng internet, kết nối toàn cầu khiến cho các hoạt động của con người trên không gian mạng ngày càng trở nên phổ biến, hệ thống pháp luật ở Việt Nam cũng ngày càng hoàn thiện để kiểm soát các mối quan hệ xã hội trên không gian mạng. Thực tế, chúng ta đã có hệ thống quy định tương đối rộng về an ninh mạng, thông tin trên mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quảng cáo và pháp luật hình sự.

Nghị định 147/2024/NĐ-CP đã đặt ra nhiều quy định về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng, trong đó có các vấn đề liên quan đến tài khoản mạng xã hội, livestream và trách nhiệm của các chủ thể cung cấp dịch vụ. Bên cạnh đó, Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tiếp tục đặt ra khuôn khổ pháp lý mới về an ninh mạng và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo tôi, vấn đề còn lại chủ yếu nằm ở khả năng thực thi và tốc độ thích ứng của pháp luật trước sự thay đổi rất nhanh của công nghệ.

Thứ nhất là tốc độ lan truyền. Một nội dung có thể đạt hàng triệu lượt xem trong vài giờ, trong khi quy trình xác minh, xử lý vi phạm cần thời gian.

Thứ hai là vấn đề xác định trách nhiệm. Một nội dung có thể được tạo bởi một người, phát tán bởi hàng nghìn tài khoản, được thuật toán đề xuất cho hàng triệu người. Vì vậy, cần phân biệt rất rõ người tạo nội dung, người chia sẻ, nền tảng, người kinh doanh và người hưởng lợi từ nội dung.

Thứ ba là vấn đề chứng cứ điện tử. Nội dung có thể bị xóa, chỉnh sửa, cắt ghép hoặc đăng lại dưới nhiều tài khoản khác nhau. Việc thu thập, bảo quản và đánh giá chứng cứ phải bảo đảm giá trị pháp lý.

Thứ tư là vấn đề xuyên biên giới. Một nền tảng có thể đặt máy chủ hoặc doanh nghiệp ở nước ngoài, trong khi người dùng và hậu quả lại phát sinh tại Việt Nam. Đây là thách thức không chỉ của Việt Nam mà của hầu hết các quốc gia.

Do đó, tôi cho rằng “khoảng trống” lớn nhất hiện nay không hẳn là thiếu tội danh hay thiếu quy định, mà là làm thế nào để pháp luật có thể đi nhanh hơn một bước so với những phương thức lợi dụng công nghệ mới để tạo ra, khuếch đại và thương mại hóa nội dung độc hại.

PV: Theo ông, cần có những giải pháp nào để giúp một bộ phận người dùng thay đổi thói quen tiếp nhận và chia sẻ những nội dung lệch chuẩn?

TS.LS Đặng Văn Cường: Trong xã hội ngày nay, việc sử dụng mạng xã hội trở nên ngày càng phổ biến, đặc biệt với người trẻ. Điều đáng chú ý là không phải người trẻ nào cũng có đủ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để bảo vệ bản thân mình, đặc biệt là trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách. Bởi vậy việc kiểm soát không gian mạng, xử lý với các đối tượng “giang hồ mạng”, những đối tượng nổi tiếng bất chấp bằng việc đưa ra các thông tin thể hiện thái độ coi thường pháp luật, những thông tin tiêu cực là cần thiết. Theo tôi, không thể giải quyết vấn đề này chỉ bằng xử phạt. Giải pháp đầu tiên phải là giáo dục kỹ năng số và năng lực kiểm chứng thông tin. Người dùng, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên, cần được hướng dẫn để hiểu rằng một video có hàng triệu lượt xem không đồng nghĩa với việc nội dung đó đúng hoặc có giá trị.

Trước hết, cần hình thành thói quen rất đơn giản: “xem – kiểm chứng – suy nghĩ – rồi mới chia sẻ”.

Thứ hai, phải thay đổi nhận thức về “like”, “share” và “view”. Nhiều người nghĩ rằng mình chỉ xem cho vui, chỉ bình luận để phản đối nhưng trên thực tế, những hành động đó đều có thể làm tăng mức độ lan truyền của nội dung.

Thứ ba, gia đình và nhà trường cần quan tâm hơn đến giáo dục văn hóa ứng xử trên không gian mạng. Không nên chỉ dạy trẻ “không được xem nội dung xấu”, mà phải giúp các em hiểu tại sao nội dung đó xấu, tại sao một người có hàng triệu người theo dõi chưa chắc là hình mẫu đáng noi theo.

Thứ tư, báo chí và những người có ảnh hưởng tích cực cần chủ động tạo ra những hình mẫu thay thế. Nếu xã hội chỉ nói về “giang hồ mạng” bằng cách liên tục đưa họ lên trang nhất, vô hình trung chúng ta có thể tiếp tục làm tăng độ nổi tiếng của họ. Đây là một nghịch lý rất đáng lưu ý: chống “giang hồ mạng” nhưng nếu truyền thông không khéo lại có thể vô tình quảng bá cho “giang hồ mạng”.

Thứ năm, các nền tảng cần có trách nhiệm hơn trong việc hạn chế nội dung vi phạm pháp luật, nội dung kích động bạo lực, xúc phạm danh dự, thông tin sai sự thật và các hình thức lợi dụng thuật toán để câu tương tác.

Cuối cùng, người dùng phải hiểu rằng tự do biểu đạt không đồng nghĩa với quyền muốn nói gì thì nói, muốn vu khống ai thì vu khống, muốn xúc phạm ai thì xúc phạm hoặc muốn quảng cáo sản phẩm thế nào cũng được. Quyền tự do trên không gian mạng vẫn phải nằm trong giới hạn của pháp luật và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

PV: Từ hàng loạt vụ việc đã xảy ra, theo ông, cần thay đổi hoặc bổ sung những biện pháp quản lý nào để vừa xử lý nghiêm những người vi phạm, vừa ngăn chặn triệt để những phiên bản “giang hồ mạng” xuất hiện dưới những vỏ bọc khác nhau trong tương lai?

TS.LS Đặng Văn Cường: Theo tôi, mục tiêu không nên chỉ là “xóa một vài tài khoản” hay “xử lý một vài nhân vật”. Nếu chỉ xử lý cá nhân mà không xử lý cơ chế tạo ra sự nổi tiếng và lợi nhuận từ nội dung lệch chuẩn thì sau một thời gian, những “giang hồ mạng” khác sẽ xuất hiện. Cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, có thể kể đến như: 

Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế định danh và trách nhiệm tài khoản trên mạng xã hội. Người sử dụng mạng xã hội phải hiểu rằng không gian mạng không phải là “vùng vô pháp luật”. Việc ẩn danh không thể trở thành công cụ để xúc phạm, đe dọa, vu khống hoặc thực hiện hành vi phạm tội.

Hai là, tăng trách nhiệm của nền tảng. Nền tảng không thể chỉ hưởng lợi từ quảng cáo và lượng người dùng mà đứng ngoài trách nhiệm xã hội. Khi đã được thông báo về nội dung vi phạm pháp luật, nền tảng cần có cơ chế xử lý nhanh, minh bạch và có khả năng ngăn nội dung vi phạm tiếp tục được phát tán dưới những tài khoản khác.

Ba là, quản lý chặt hơn hoạt động thương mại dựa trên sức ảnh hưởng. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng. Một người có vài triệu người theo dõi có thể tác động trực tiếp đến hành vi mua hàng của hàng triệu người. Vì vậy, trách nhiệm của KOL, KOC, người livestream phải tương xứng với sức ảnh hưởng của họ. Luật Quảng cáo sửa đổi năm 2025 đã đi theo hướng này khi đặt ra trách nhiệm cụ thể đối với người chuyển tải sản phẩm quảng cáo và người có ảnh hưởng, đây là bước tiến rất đáng chú ý. 

Bốn là, phải truy đến cùng lợi ích kinh tế từ hành vi vi phạm. Nếu một người dùng danh tiếng để bán hàng giả, lừa dối khách hàng hoặc thực hiện các hành vi vi phạm khác, cơ quan chức năng không chỉ cần xem xét nội dung video mà phải làm rõ doanh thu, dòng tiền, lợi nhuận, tài sản và những người cùng tham gia.

Năm là, tăng cường trách nhiệm của người dùng. Người chia sẻ nội dung không thể luôn viện lý do “tôi chỉ chia sẻ” để phủ nhận trách nhiệm. Nếu biết rõ thông tin là sai sự thật, biết rõ nội dung có tính chất xúc phạm, vu khống, kích động hoặc vi phạm pháp luật mà vẫn cố tình phát tán, tùy trường hợp, người chia sẻ cũng có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý. Bộ luật Hình sự đã có các quy định về những hành vi như làm nhục người khác, vu khống; trong đó việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử có thể là tình tiết định khung đối với một số tội danh.

Sáu là, phải chuyển từ tư duy “xử lý hậu quả” sang “phòng ngừa từ sớm”. Cơ quan quản lý nhà nước, nền tảng, báo chí, nhà trường, gia đình và người dùng phải cùng tham gia.

Hình sự là biện pháp nghiêm khắc nhất và chỉ được sử dụng khi hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trước đó phải có hàng loạt công cụ khác như giáo dục, truyền thông, xử lý hành chính, hạn chế khả năng tiếp cận nội dung, minh bạch quảng cáo, kiểm soát dòng tiền và trách nhiệm của nền tảng. Điều quan trọng nhất là phải làm thay đổi “mô hình lợi nhuận” của nội dung lệch chuẩn. Nếu một người càng gây sốc càng nhiều người xem, càng được nền tảng đề xuất, càng có nhiều quảng cáo, bán được nhiều hàng và kiếm được nhiều tiền thì chính cơ chế đó đang tạo động lực cho “giang hồ mạng” tồn tại.

Một xã hội văn minh không thể đo bằng việc có bao nhiêu người nổi tiếng trên mạng, mà phải đo bằng việc xã hội tôn vinh ai và tôn vinh giá trị gì. Nếu chúng ta tiếp tục biến những phát ngôn phản cảm, hành vi bạo lực, khoe tiền, khoe quyền lực, coi thường pháp luật thành “nội dung triệu view”, thì rất khó ngăn chặn thế hệ “giang hồ mạng” tiếp theo. Ngược lại, nếu cộng đồng mạng biết nói “không” với nội dung lệch chuẩn, doanh nghiệp không sử dụng những nhân vật vi phạm chuẩn mực để quảng bá, nền tảng không tiếp tục khuếch đại nội dung độc hại và cơ quan chức năng xử lý nghiêm những hành vi vi phạm thì “đất sống” của hiện tượng “giang hồ mạng” sẽ dần bị thu hẹp.

Đó phải là một cuộc “thanh lọc” bằng cả pháp luật, công nghệ, giáo dục và văn hóa ứng xử trên không gian mạng.

Thành viên nhóm lớp Báo in K43

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/tsls-dang-van-cuong-can-phai-thanh-loc-giang-ho-mang-bang-ca-phap-luat-cong-ngh-260908083605452.html