TS Lý Viết Trường: 'Người trẻ sử dụng nền tảng số kể câu chuyện văn hóa dân tộc là sáng tạo đáng ghi nhận'

Tiến sĩ Lý Viết Trường có nhiều năm bền bỉ với việc nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa các dân tộc Nùng, Tày vùng biên giới Việt - Trung. Đến nay, hành trình ấy vẫn đang được tiếp tục, với việc cống hiến và chia sẻ tri thức với các bạn sinh viên, với cộng đồng bằng tâm huyết của mình.

TS Lý Viết Trường (sinh năm 1994) hiện là Giảng viên của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển (ĐHQG Hà Nội). Anh tốt nghiệp Cử nhân và Thạc sĩ tại trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại trường ĐH Dân tộc Quảng Tây (Trung Quốc). Đến nay, Lý Viết Trường đã có hơn 30 công trình khoa học với 10 đầu sách, hơn 20 bài đăng trên các tạp chí và kỷ yếu hội thảo quốc tế, quốc gia. Anh có những chia sẻ về hành trình nghiên cứu của mình với Sinh Viên Việt Nam trong thời khắc chuẩn bị bước sang Năm mới Bính Ngọ 2026.

TS Lý Viết Trường là một trong 9 nhà khoa học trẻ xuất sắc trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nhận Giải thưởng Khuê Văn Các lần thứ nhất, năm 2024, do T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức, nhờ các công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Nùng, Tày vùng biên giới Việt - Trung.

Điều gì giúp một người trẻ như anh vẫn kiên trì với con đường nghiên cứu học thuật trong bối cảnh nhiều lựa chọn hấp dẫn hơn về mặt kinh tế ngoài xã hội?

Với tôi, việc kiên trì theo đuổi con đường nghiên cứu học thuật trước hết xuất phát từ một cảm thức trách nhiệm rất cá nhân nhưng cũng rất sâu xa đối với tộc người của mình. Tôi là người Nùng, sinh ra và lớn lên trong không gian văn hóa của cộng đồng Nùng, Tày ở miền núi phía Bắc, vì vậy, việc nghiên cứu về chính dân tộc mình không đơn thuần là một lựa chọn nghề nghiệp mà là một cách để bảo tồn, lưu giữ và góp phần định vị cộng đồng ấy trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của xã hội đương đại. Tôi luôn ý thức rằng, nếu chính những người trong cộng đồng không lên tiếng, không ghi chép, không nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học, thì rất nhiều tri thức, ký ức và giá trị văn hóa sẽ bị diễn giải lệch lạc.

Bên cạnh đó, tôi có một tình yêu bền bỉ với văn hóa dân tộc và với công việc nghiên cứu, với những trang sách dân tộc học, với việc điền dã, lắng nghe câu chuyện của người già, quan sát sinh hoạt đời thường của cộng đồng. Đó là niềm vui không dễ đo đếm bằng vật chất, nhưng lại mang đến cho tôi cảm giác được sống đúng với mình, được làm công việc có ý nghĩa lâu dài, có chiều sâu. Chính tình yêu ấy giúp tôi vượt qua những giai đoạn khó khăn, những lúc nghiên cứu tưởng như rất cô độc và ít được nhìn thấy ngay giá trị.

Cuối cùng, tôi luôn coi con đường mình đang đi là sự tiếp nối một truyền thống học thuật. Đó là sự tiếp nối của các thế hệ nhà nghiên cứu đi trước, những người thầy, tiền bối đã dày công đặt nền móng cho ngành Dân tộc học Việt Nam. Với tôi, nghiên cứu không chỉ là công việc cá nhân mà còn là một lời hứa thầm lặng với thầy cô, với ngành nghề mình đã lựa chọn. Sự kiên trì vì thế không chỉ đến từ lý trí, mà còn từ cảm thức trách nhiệm và lòng biết ơn đối với con đường nghiên cứu mà tôi đang được tiếp bước.

Tục cúng thần Thổ công của người Nùng vào ngày mùng Một Tết luôn là ký ức sâu đậm nhất.

Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát tìm tư liệu, chuyến đi thực tế nào để lại cho anh nhiều suy nghĩ và cảm xúc nhất?

Thực ra, mỗi chuyến điền dã đối với tôi đều mang theo những trải nghiệm riêng, mỗi vùng đất đi qua lại mở ra những lớp tri thức mới và để lại những kỷ niệm rất khó phai. Về những chuyến đi khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất, để lại cảm xúc sâu sắc nhất, đó là những đợt khảo sát mà tôi có cơ hội làm việc trực tiếp với các cụ cao niên trong cộng đồng. Các cụ chính là những “kho tàng sống” của tri thức dân gian, từ tập quán, ký ức lịch sử cho đến những câu chuyện đời thường gắn với bản làng.

Chính từ những trải nghiệm ấy, tôi càng thấm thía rằng, thời gian của các cụ cao niên không còn nhiều và tri thức dân gian cũng mong manh như chính đời người. Khi những người già dần rời đi, thứ họ để lại cho con cháu không chỉ là nỗi nhớ hay kỷ niệm, mà còn là cả một kho tàng tri thức, nếu con cháu và xã hội biết trân trọng và tiếp nhận. Những chuyến đi như vậy luôn nhắc tôi rằng, công việc nghiên cứu không chỉ là ghi chép hay phân tích, mà còn là một cuộc chạy đua thầm lặng với thời gian để kịp lưu giữ những giá trị văn hóa đang dần khuất bóng.

Anh nhìn nhận thế nào về việc thời đại mạng xã hội có thể làm phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc hoặc tạo ra sự đứt gãy thế hệ thiếu sự tiếp nối truyền thống?

Tôi cho rằng, mạng xã hội là một hiện tượng hai mặt và việc nó tác động như thế nào đến bản sắc văn hóa dân tộc phụ thuộc rất lớn vào cách con người sử dụng và định hướng nó. Ở mặt tích cực, mạng xã hội mở ra những kênh lưu giữ và quảng bá văn hóa chưa từng có trước đây. Thông qua các nền tảng như Facebook, Zalo, TikTok hay YouTube… nhiều giá trị văn hóa truyền thống, từ nghi lễ, lễ hội, tri thức dân gian đến câu chuyện đời sống cộng đồng, có thể được ghi lại, lan tỏa và tiếp cận với đông đảo công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Nếu được làm một cách nghiêm túc và có chọn lọc, mạng xã hội có thể trở thành một “không gian văn hóa mới”, hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn và phát huy di sản.

Ở chiều ngược lại, mạng xã hội cũng tiềm ẩn nguy cơ làm phai nhạt bản sắc và tạo ra sự đứt gãy trong tiếp nối truyền thống. Việc tiếp cận quá dễ dàng với “thế giới phẳng” khiến nhiều người trẻ bị cuốn vào những trào lưu nhanh, ngắn, thiên về giải trí tức thời, từ đó dần xa rời các giá trị văn hóa gắn với cộng đồng, gia đình và tộc người. Khi những chuẩn mực, lối sống và thẩm mỹ toàn cầu lấn át, văn hóa bản địa có nguy cơ bị giản lược, bị xem như lỗi thời, hoặc chỉ còn tồn tại ở dạng trình diễn bề mặt.

Hiện tại, có nhiều bạn trẻ lựa chọn bỏ phố về quê, nơi họ có thể sử dụng các phương cách truyền thông số để quảng bá văn hóa quê nhà và có thể đạt được mục tiêu kinh tế cá nhân. Anh đánh giá thế nào khi vẫn có những người trẻ sử dụng nền tảng số, mạng xã hội để kể câu chuyện văn hóa dân tộc theo cách mới, từ đó lan tỏa các giá trị truyền thống quê hương đến thế hệ cùng trang lứa với họ?

Tôi nhìn nhận, đây là một xu hướng rất đáng trân trọng và cần được khích lệ trong bối cảnh hiện nay. Khi công nghệ số phát triển mạnh mẽ, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược đang dần được thu hẹp, thậm chí trong nhiều trường hợp không còn là rào cản lớn như trước. Điều này tạo điều kiện để người trẻ có thể lựa chọn không gian sống và làm việc phù hợp với mình, trong đó, xu hướng bỏ phố về quê lập nghiệp là một hướng đi tích cực, mang nhiều ý nghĩa cả về kinh tế lẫn văn hóa – xã hội.

Thay vì tiếp cận văn hóa truyền thống như một di sản “đóng khung”, họ đưa văn hóa vào đời sống đương đại, gắn với du lịch cộng đồng, ẩm thực, nông sản địa phương, trải nghiệm bản làng hay những câu chuyện đời thường của quê hương. Chính cách kể này giúp văn hóa trở nên gần gũi hơn với thế hệ cùng lứa, dễ tiếp nhận hơn và có khả năng lan tỏa rộng rãi.

Thời còn là sinh viên, anh đã có bài báo viết về Tục lấy nước Tết Nguyên đán của người Nùng, Tày (Lạng Sơn). Theo anh, phong tục này được người trẻ giữ gìn như thế nào?

Theo tôi, tục lấy nước nói riêng và nhiều phong tục truyền thống khác của người Nùng, Tày vẫn được người trẻ duy trì, nhưng theo những cách thức linh hoạt và sáng tạo hơn. Bên cạnh việc thực hành trong phạm vi gia đình và cộng đồng, nhiều bạn trẻ còn kể lại, ghi hình và chia sẻ các phong tục này trên mạng xã hội. Chính những cách tiếp cận mới ấy giúp các giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được lưu giữ, lan tỏa và hiện diện một cách tự nhiên trong đời sống đương đại.

Là một người con dân tộc Nùng, trong dịp Tết, có ký ức nào ấn tượng trong việc đón Tết mà đến giờ anh vẫn thực hiện mỗi khi Tết đến Xuân về?

Với tôi, ký ức Tết gắn bó và in đậm nhất chính là tục cúng thần Thổ công của người Nùng vào ngày mùng Một Tết. Từ khi còn nhỏ, tôi đã theo chân người lớn mang lễ vật ra miếu của bản để dâng cúng. Sau nghi lễ, các gia đình cùng nhau thụ lộc, trò chuyện, chúc nhau Năm mới bình an. Đến nay, dù đi đâu, làm gì, mỗi khi Tết đến Xuân về, tôi vẫn luôn cố gắng giữ thói quen ấy. Phong tục này không chỉ mang ý nghĩa cầu mong cho một năm mới thuận lợi, mùa màng tốt tươi, gia đình yên ấm, mà còn có giá trị rất lớn trong việc cố kết cộng đồng. Đó là dịp các gia đình trong bản gặp gỡ, chia sẻ, cùng tạo nên một không khí cộng cảm, gắn bó, giúp Tết không chỉ là câu chuyện của từng nhà, mà là của cả cộng đồng.

Đối với các bạn trẻ là người dân tộc thiểu số, nghiên cứu khoa học không chỉ là một nghề nghiệp, mà còn là trách nhiệm đối với văn hóa mẹ đẻ và cộng đồng của chính mình. Việc nghiên cứu giúp chúng ta hiểu sâu hơn về nguồn cội, đồng thời góp phần gìn giữ và khẳng định giá trị văn hóa của tộc người trong bối cảnh hiện nay. Lớp nhà nghiên cứu trẻ trong cộng đồng người Nùng và người Tày chính là những người tiếp nối các thế hệ đi trước và góp phần định hình diện mạo nghiên cứu dân tộc học trong tương lai.

Đến thời điểm hiện tại, điều gì khiến anh cảm thấy hài lòng nhất trên hành trình đã chọn?

Điều khiến tôi cảm thấy hài lòng nhất đến thời điểm này là cảm giác mình đang đi đúng con đường đã lựa chọn. Tôi được làm công việc gắn bó với văn hóa dân tộc của chính mình, được điền dã, nghiên cứu, giảng dạy và chia sẻ tri thức với sinh viên, với cộng đồng. Bên cạnh những kết quả cụ thể như công trình nghiên cứu hay giải thưởng, điều quan trọng hơn là tôi thấy các nghiên cứu của mình có ích cho cộng đồng, được người dân địa phương đón nhận, và góp phần truyền cảm hứng cho người trẻ quan tâm đến lĩnh vực văn hóa. Với tôi, chính sự kết nối ấy là giá trị lớn nhất trên hành trình nghiên cứu mà tôi đang theo đuổi.

Trân trọng cảm ơn anh!

Nguồn SVVN: https://svvn.tienphong.vn/ts-ly-viet-truong-nguoi-tre-su-dung-nen-tang-so-ke-cau-chuyen-van-hoa-dan-toc-la-sang-tao-dang-ghi-nhan-post1814959.tpo