TS. Nguyễn Xuân Sinh: Luật hóa tiêu chí xanh tạo 'cú hích' cho doanh nghiệp

Nghị định 25/2026/NĐ-CP tạo đòn bẩy lớn cho ngành hóa chất, cần những bệ đỡ về dòng vốn và hệ thống quy chuẩn phân loại kỹ thuật để hiện thực hóa mục tiêu giảm phát thải.

Giảm ô nhiễm ngay tại nguồn

Bước sang thập kỷ thứ ba phát triển, hóa học xanh không dừng lại ở lý thuyết mà đã trở thành "chìa khóa vàng" định hình lại nền công nghiệp toàn cầu với quy mô thị trường chạm mốc 98,5 tỷ USD (năm 2020) và được dự báo sẽ tăng trưởng theo cấp số nhân.

Hóa học xanh đã được ghi nhận về giảm thiểu lượng chất thải hóa học thải ra môi trường và tạo nên các lĩnh vực nghiên cứu mới như: dung môi xanh, sự chuyển đổi và vật liệu dựa trên sinh học, năng lượng thay thế, tự lắp ráp phân tử, thiết kế xúc tác thế hệ tiếp theo và thiết kế phân tử nhằm giảm rủi ro.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Xuân Sinh, Ủy viên Ban chi hội Hội Hóa học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng trách nhiệm xã hội các doanh nghiệp Hóa chất Việt Nam.

TS. Nguyễn Xuân Sinh, Ủy viên Ban chi hội Hội Hóa học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng trách nhiệm xã hội các doanh nghiệp Hóa chất Việt Nam. Ảnh: NVCC

TS. Nguyễn Xuân Sinh, Ủy viên Ban chi hội Hội Hóa học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng trách nhiệm xã hội các doanh nghiệp Hóa chất Việt Nam. Ảnh: NVCC

- Thưa ông, đâu là những điểm khác biệt giữa hóa học xanh với ngành hóa học theo cách hiểu truyền thống?

TS. Nguyễn Xuân Sinh: Hóa học xanh là thiết kế các sản phẩm và quy trình hóa học nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ việc sử dụng hoặc phát sinh các chất độc hại, sử dụng nhiều hơn các nguyên liệu tái tạo và bền vững. Do vậy, hóa học xanh cũng có thể được coi là hóa học bền vững. Một số báo cáo về ngành công nghiệp đã dự báo hóa học xanh là tương lai của tất cả ngành hóa học.

Các tiêu chí về hóa học xanh là giảm ô nhiễm tại nguồn bằng cách giảm thiểu hoặc loại bỏ các mối nguy hại từ nguyên liệu hóa học, chất phản ứng, dung môi và sản phẩm. Điều này không giống như làm sạch ô nhiễm (còn gọi là khắc phục), bao gồm xử lý các dòng chất thải (xử lý cuối đường ống) hoặc dọn sạch các sự cố tràn môi trường và các bản phát thải khác. Khắc phục có thể bao gồm tách hóa chất độc hại khỏi các vật liệu khác, sau đó xử lý chúng để chúng không còn nguy hại hoặc cô lập chúng để xử lý an toàn. Hầu hết các hoạt động khắc phục không liên quan đến hóa học xanh. Khắc phục loại bỏ các vật liệu nguy hiểm khỏi môi trường; mặt khác, hóa học xanh giữ các vật liệu nguy hại không phát thải ra khỏi môi trường ngay từ đầu.

Nếu một công nghệ làm giảm hoặc loại bỏ các hóa chất độc hại được sử dụng để làm sạch các chất gây ô nhiễm môi trường, công nghệ này sẽ đủ điều kiện là công nghệ hóa học xanh. Ví dụ, thay thế một chất hấp thụ hóa học nguy hiểm được sử dụng để thu thủy ngân từ không khí để xử lý an toàn bằng một chất hấp thụ hiệu quả, nhưng không gây hại. Sử dụng chất hấp thụ không gây hại có nghĩa là không sản xuất ra các chất hấp thụ nguy hiểm và vì vậy, công nghệ khắc phục đáp ứng tiêu chí của hóa học xanh.

- Theo ông, đâu là những rào cản đang cản trở doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình hóa học xanh?

TS. Nguyễn Xuân Sinh: Các doanh nghiệp ngành hóa chất đang đối mặt với những thách thức lớn về chi phí đầu tư ban đầu cao, chi phí công nghệ và giá thành sản phẩm xanh vẫn còn cao hơn nhiều so với sản phẩm. Do vậy, các doanh nghiệp với nguồn lực tài chính yếu sẽ chưa thể theo kịp và đáp ứng yêu cầu bắt buộc này mà vẫn phải cần thời gian để chuyển đổi dần.

Thách thức lớn mà các doanh nghiệp đang đối mặt đó là thiếu nguồn vốn đầu tư cho các dự án hóa học xanh, kể cả các doanh nghiệp hóa chất quy mô lớn. Việc thay đổi công nghệ sản xuất theo hướng công nghệ mới thân thiện môi trường, nguyên liệu đầu vào không đơn giản có thể thực hiện được ngay, trong khi đó các quy định về môi trường, giảm phát thải khí nhà kính… của các khu vực như EU, Nhật Bản được ban hành sẽ là rào cản lớn để sản phẩm đạt tiêu chí của nước nhập khẩu.

Các cơ quan nhà nước chưa xây dựng và ban hành các quy chuẩn phân loại hóa chất xanh cũng là khó khăn cho doanh nghiệp hóa chất để có căn cứ đánh giá khả năng đáp ứng của doanh nghiệp theo tiêu chí hóa học xanh. Ví dụ, một số dự án sản xuất hóa chất như hydro xanh đang triển khai tại Trà Vinh, Bến Tre, nhưng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến sản phẩm hydroxanh, quy chuẩn lưu giữ hydro xanh. chưa được xây dựng và ban hành…

Giải pháp chính sách đưa hóa học xanh vào đời sống sản xuất

- Tại Nghị định 25/2026/NĐ-CP, 12 nguyên tắc hóa học xanh, việc luật hóa các tiêu chí này sẽ tạo ra cú hích như thế nào đối với các nhà máy, xí nghiệp hóa chất hiện nay?

TS. Nguyễn Xuân Sinh: Trước hết, phải ghi nhận rằng, Luật Hóa chất số 69/2025/QH15 đã có quy định khung tại Điều 5, chương II về phát triển ngành công nghiệp hóa chất. Theo đó, chủ đầu tư dự án hóa chất có nghĩa vụ phải áp dụng bộ nguyên tắc trong thiết kế, lựa chọn công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất, sử dụng và thải bỏ hóa chất nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ việc sử dụng và tạo ra hóa chất nguy hiểm (sau đây gọi là nguyên tắc hóa học xanh). Đồng thời, quy định nội dung nguyên tắc hóa học xanh đã được áp dụng trong báo cáo dự án.

Hóa học xanh vào đời sống sản xuất. Ảnh minh họa

Hóa học xanh vào đời sống sản xuất. Ảnh minh họa

Nghị định số 25/2026/NĐ-CP ban hành ngày 17/1/2026 đã quy định 12 nguyên tắc Hóa học xanh, trong đó có 4 nguyên tắc bắt buộc áp dụng và 8 nguyên tắc khuyến khích áp dụng. Với các quy định đã được luật hóa tại Luật, Nghị định, rõ ràng sẽ đem lại cú hích mạnh, mang lại hiệu ứng tích cực đối với các nhà máy, xí nghiệp hóa chất hiện nay:

Trước hết, khi các quy định đã được luật hóa, sẽ tạo ra sự tuân thủ đồng bộ, bắt buộc tất cả các doanh nghiệp không phân biệt đối tượng doanh nghiệp quy mô lớn hay nhỏ, doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, nước ngoài hay trong nước đều phải tuân theo.

Nghị định 25/2026/NĐ-CP cũng quy định đánh giá việc áp dụng nguyên tắc hóa học xanh trong thiết kế và lựa chọn công nghệ, thiết bị của dự án. Do vậy, các chủ đầu tư khi lập dự án phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu, trường hợp không đạt yêu cầu trong quá trình thẩm định dự án sẽ không triển khai được dự án và như vậy sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến dự án đầu tư.

Thực tiễn thời gian qua, khi làm việc với nhiều công ty, doanh nghiệp hóa chất đang hoạt động trong nước cũng như một số dự án chuẩn bị triển khai cho thấy hiệu quả tích cực của việc luật hóa các tiêu chí hóa học xanh. Sự thay đổi từ nhận thức về ý nghĩa của việc áp dụng hóa học xanh đã đưa đến các kết quả tích cực: sự đón nhận của người tiêu dùng với các sản phẩm thân thiện môi trường, an toàn đối với sức khỏe, các dự án hóa chất khi triển khai bắt buộc phải có Kế hoạch hoặc Biện pháp phòng ngừa ứng phó sự cố hóa chất. Các thay đổi này đã tạo cho doanh nghiệp xây dựng hình ảnh, thương hiệu tốt hơn, sản phẩm đáp ứng được nhiều tiêu chí khắt khe của các thị trường khó tính nhất…

- Để Nghị định 25/2026/NĐ-CP và đặc biệt hóa học xanh thực sự đi vào đời sống sản xuất, theo ông, cần có những cơ chế, chính sách cụ thể nào cho doanh nghiệp?

TS. Nguyễn Xuân Sinh: Như đã nói ở trên, các nguyên tắc hóa học xanh đã được ban hành tại Luật Hóa chất 69/2025/QH15 và Nghị định 25/2026/NĐ-CP sẽ có các tác động tích cực cho doanh nghiệp, đồng thời cũng sẽ dẫn đến các áp lực lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, rất cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hóa học xanh. Xin đề xuất một số chính sách cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về áp dụng hóa học xanh, trong đó các cơ quan nhà nước về quản lý hóa chất và các cơ quan liên quan phải sớm xây dựng và ban hành các tiêu chí, quy chuẩn… liên quan về hóa học xanh.

Thứ hai, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan sớm xây dựng, ban hành các chính sách ưu đãi về công nghệ, tài chính (đầu tư và thuế) và tín dụng xanh nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi toàn diện tại doanh nghiệp.

Cụ thể, doanh nghiệp có dự án chuyển đổi công nghệ, giảm phát thải hóa chất nguy hại được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, tài chính quốc tế.

Thứ ba, xây dựng các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp như hỗ trợ trực tiếp từ các chương trình khuyến công quốc gia và địa phương.

Thứ tư, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo: Thông qua các dự án hợp tác quốc tế, mạng lưới chuyên gia để tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật đào tạo cho doanh nghiệp nâng cao nhận thức và áp dụng hóa học xanh.

Thứ năm, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong tiếp cận, chuyển giao các công nghệ lõi, mới. Hỗ trợ các doanh nghiệp mong muốn đối mới công nghệ có thể tiếp cận với các nhà cung cấp công nghệ tin cậy…

TS. Nguyễn Xuân Sinh: Các chính sách cần được xây dựng và ban hành kịp thời để doanh nghiệp có thể định hướng, xây dựng kế hoạch hành động cụ thể.

Phương Hà

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/ts-nguyen-xuan-sinh-luat-hoa-tieu-chi-xanh-tao-cu-hich-cho-doanh-nghiep-464119.html