Từ 5.10, người cao tuổi thuộc diện đặc biệt khó khăn nhận 1,62 triệu đồng/tháng
Mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng từ 500.000 lên 540.000 đồng/tháng, kéo theo mức trợ cấp cao hơn cho nhiều nhóm đối tượng. Người cao tuổi thuộc diện đặc biệt khó khăn được hưởng mức cao nhất, 1,62 triệu đồng/tháng.

Ảnh minh họa
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 335/2026 quy định chính sách trợ giúp xã hội, chính thức có hiệu lực từ ngày 5.10.2026.
Theo đó, mức chuẩn trợ giúp xã hội được nâng lên 540.000 đồng/tháng, thay cho mức 500.000 đồng trước đây. Mức chuẩn mới được áp dụng từ ngày 1.7.2026 đối với các đối tượng đang hưởng chế độ, chính sách theo quy định chuyển tiếp. Đây là căn cứ quan trọng để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như chi phí chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội trên toàn quốc.
Theo tính toán của Bộ Y tế, mức chuẩn mới 540.000 đồng hiện mới đáp ứng khoảng 24,5% chuẩn nghèo khu vực nông thôn và 19,2% chuẩn nghèo đô thị. Với khoảng 4,5 triệu đối tượng thụ hưởng, ngân sách nhà nước dự kiến sẽ tăng thêm mỗi tháng 304 tỉ đồng khi nâng mức chuẩn thêm 40.000 đồng so với trước.
Nghị định quy định mức trợ cấp xã hội hằng tháng đối với các nhóm đối tượng thuộc diện trợ giúp thường xuyên tại cộng đồng được tính bằng 540.000 đồng nhân với hệ số tương ứng. Các hệ số này dao động từ 1,0 đến 3,0 tùy theo từng nhóm đối tượng và mức độ khó khăn.
Đối với trẻ em dưới 4 tuổi thuộc diện bảo trợ xã hội, hệ số áp dụng là 2,5, tương đương mức hỗ trợ 1,35 triệu đồng/tháng. Trẻ em từ đủ 4 tuổi trở lên thuộc cùng diện này được hưởng hệ số 1,5, tức 810.000 đồng/tháng. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo dưới 4 tuổi nhận 1,35 triệu đồng/tháng, trong khi nhóm từ đủ 4 đến dưới 16 tuổi nhận 1,08 triệu đồng/tháng.
Người đơn thân nghèo nuôi con được hưởng 540.000 đồng cho mỗi con đang nuôi. Như vậy, người nuôi 2 con sẽ nhận 1,08 triệu đồng, nuôi 3 con nhận 1,62 triệu đồng mỗi tháng.
Đối với nhóm người cao tuổi, người từ đủ 60 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo được hưởng hệ số 1,5, tương ứng 810.000 đồng/tháng. Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên thuộc diện này được hưởng hệ số 2,0, tức 1,08 triệu đồng/tháng.
Đặc biệt, mức trợ cấp cao nhất 1,62 triệu đồng/tháng (hệ số 3,0) được áp dụng cho người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không còn người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không đủ điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.
Về nhóm người khuyết tật, người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng hệ số 2,0 (1,08 triệu đồng/tháng); trong khi trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng được hưởng hệ số 2,5 (1,35 triệu đồng/tháng).
Người khuyết tật nặng nhận hệ số 1,5 (810.000 đồng/tháng), còn trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi khuyết tật nặng nhận hệ số 2,0 (1,08 triệu đồng/tháng).
Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo tại địa bàn đặc biệt khó khăn nhận mức 810.000 đồng/tháng. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có lương, tiền công hoặc lương hưu cũng được hưởng mức hỗ trợ 810.000 đồng/tháng.
Nghị định có hiệu lực chung từ ngày 5.10, tuy nhiên Điều 32 quy định riêng về hiệu lực thi hành cho phép mức chuẩn trợ giúp xã hội mới được áp dụng từ ngày 1.7.2026 đối với các đối tượng đang hưởng chế độ, chính sách theo quy định chuyển tiếp. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm rà soát danh sách đối tượng đang hưởng chính sách và quyết định chi trả theo mức tương ứng kể từ ngày này.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng trao quyền cho UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội cao hơn trên địa bàn nếu điều kiện kinh tế - xã hội địa phương cho phép, đồng thời quyết định để đối tượng khó khăn khác chưa được quy định tại Nghị định này được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.

