Từ cây sâm mở hướng thoát nghèo nơi biên giới (bài 3)
Từ cây sâm Lai Châu ở Ngài Thầu, điều đáng kỳ vọng không chỉ là một sản phẩm mới, mà còn là khả năng đánh thức những giá trị sẵn có ở vùng biên. Khi lợi thế của đất và rừng được chuyển thành sinh kế, người dân có thêm động lực bám bản, giữ rừng; từ đó, phát triển kinh tế cũng tạo thêm nền tảng cho "thế trận lòng dân".
Bài 3: Tạo thêm động lực để người dân bám bản, giữ rừng
Tại Ngài Thầu, xã Sì Lở Lầu, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ thử nghiệm một hướng sinh kế từ sâm Lai Châu, mà còn tìm cách kết nối các nguồn lực để người dân từng bước làm chủ quá trình sản xuất. Điều được kỳ vọng lớn hơn là từ một mô hình cụ thể có thể hình thành cách làm phù hợp với từng địa bàn, phát huy lợi thế bản địa, tạo sinh kế, giữ rừng và góp phần củng cố "thế trận lòng dân" nơi biên giới.

Cán bộ Biên phòng hướng dẫn người dân chăm sóc sâm Lai Châu. Ảnh: Đức Duẩn
Chọn hướng đi từ lợi thế địa phương
Trước khi triển khai mô hình trồng sâm tại Ngài Thầu, Đảng ủy, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đã tổ chức hội nghị với lãnh đạo 13 đồn Biên phòng để thống nhất cách tiếp cận trong hỗ trợ phát triển kinh tế ở địa bàn biên giới. Thay vì áp dụng một mô hình giống nhau cho tất cả các địa phương, các đơn vị được yêu cầu khảo sát thực tế, xác định lợi thế riêng và lựa chọn hướng phát triển phù hợp. 11 xã biên giới của tỉnh có 172 bản, trong đó 68 bản giáp biên, với 20 dân tộc cùng sinh sống. Điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường ở mỗi địa bàn khác nhau. Vì vậy, điều có thể nhân rộng không phải một loại cây hay một mô hình cụ thể, mà là cách phát hiện lợi thế từ cơ sở và tổ chức các nguồn lực để biến lợi thế ấy thành sinh kế.
Ngài Thầu được lựa chọn từ yêu cầu đó. Sâm Lai Châu có giá trị kinh tế và phù hợp với điều kiện sinh thái ở một số khu vực, nhưng đây không phải là cây trồng có thể phát triển theo phong trào. Để trở thành hàng hóa, cây sâm cần nguồn giống bảo đảm, quy trình kỹ thuật, tổ chức sản xuất, liên kết giữa các chủ thể và thị trường tiêu thụ.
Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải, cho biết, trong quá trình triển khai, cán bộ Biên phòng thường xuyên xuống cơ sở, cùng người dân trao đổi những vấn đề cụ thể trong sản xuất. Điều quan trọng là giúp bà con hiểu đặc điểm của cây sâm, yêu cầu kỹ thuật và quy trình chăm sóc; đồng thời xác định đây là hướng sản xuất cần đầu tư lâu dài, không thể chỉ trông chờ vào nguồn hỗ trợ ban đầu. Từ thực tế đó, vai trò của Bộ đội Biên phòng được thể hiện rõ ở khả năng bám cơ sở và kết nối các nguồn lực. Cán bộ Biên phòng có điều kiện nắm đời sống, tâm tư của người dân, nhận diện những lợi thế và khó khăn ở từng bản, từ đó làm cầu nối giữa người dân với chính quyền, cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà khoa học.
Để người dân làm chủ sinh kế
Đưa cây sâm vào sản xuất mới chỉ là bước đầu. Vấn đề quan trọng hơn là tổ chức sản xuất như thế nào để người dân có thể duy trì mô hình và hưởng lợi từ giá trị do chính mình tạo ra. Theo Đại tá Trương Minh Đức, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu, đơn vị xác định mục tiêu của mô hình là để người dân tự làm, tự quản lý và từng bước có thu nhập từ sức lao động của mình. Với những địa bàn còn nhiều khó khăn, nếu người dân vẫn phải chờ hỗ trợ thì mô hình sẽ khó duy trì lâu dài.
Theo đó, mô hình được tổ chức theo cơ chế phối hợp giữa 6 chủ thể, gồm Bộ đội Biên phòng, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học, hợp tác xã và nhân dân. Mỗi chủ thể đảm nhiệm một phần việc, trong đó, người dân là lực lượng trực tiếp sản xuất và hưởng lợi. Chính quyền tạo điều kiện trong phạm vi chức năng; nhà khoa học hỗ trợ kỹ thuật, nguồn giống và quy trình sản xuất; doanh nghiệp tham gia liên kết, chế biến, tiêu thụ; hợp tác xã tổ chức sản xuất; Bộ đội Biên phòng làm nhiệm vụ kết nối, đồng hành và hỗ trợ người dân trong quá trình triển khai. Cách tổ chức này nhằm khắc phục tình trạng hỗ trợ theo từng phần, thiếu sự liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ. Khi người dân trực tiếp tham gia, họ không chỉ nhận được nguồn lực ban đầu mà còn có cơ hội tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và từng bước nâng cao khả năng tự tổ chức sản xuất.
Ở góc độ địa phương, ông Lê Văn Đức, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sì Lở Lầu, cho rằng, sự tham gia của nhiều lực lượng giúp người dân có thêm niềm tin khi tiếp cận một hướng sản xuất mới. Chính quyền địa phương sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ đội Biên phòng và các cơ quan liên quan để tạo điều kiện cho những mô hình phù hợp với thực tế địa bàn.
Từ Ngài Thầu, yêu cầu đặt ra đối với phát triển kinh tế ở khu vực biên giới không chỉ là mở rộng diện tích sản xuất, mà phải tạo được giá trị từ sản phẩm và bảo đảm người dân tham gia thực chất vào quá trình đó. Với sâm Lai Châu, yêu cầu này càng rõ, bởi đây là nguồn gen quý, gắn với điều kiện sinh thái đặc thù của vùng núi cao. Phát triển vùng sâm vì thế phải đi cùng bảo tồn nguồn gen, kiểm soát chất lượng giống, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng chuỗi liên kết ổn định. Khi sản phẩm được nâng cao bằng khoa học, công nghệ và chế biến, giá trị của cây sâm mới có cơ hội tăng lên thay vì chỉ dừng ở nguyên liệu thô.
Đồng chí Hà Trọng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu đánh giá, mô hình tại xã Sì Lở Lầu là một hướng gợi mở để tỉnh tiếp tục nghiên cứu, định hướng phát triển vùng sâm Lai Châu. Mục tiêu đến năm 2030, Lai Châu phấn đấu trồng 30.000ha sâm Lai Châu. Để đạt mục tiêu này, theo ông, cần liên kết vùng, liên kết doanh nghiệp, bảo đảm quy mô, tiêu chuẩn và chất lượng, đồng thời phát triển các sản phẩm từ sâm có giá trị kinh tế cao.
Mục tiêu lớn cũng đặt ra yêu cầu thận trọng trong quá trình phát triển. Không thể chạy theo diện tích mà xem nhẹ nguồn giống, chất lượng, quy hoạch, môi trường và thị trường. Vùng sâm chỉ có thể phát triển bền vững khi đáp ứng được các điều kiện sản xuất và tạo ra lợi ích thực chất cho người dân.

Những cây sâm Lai Châu đang sinh trưởng dưới tán rừng tại bản Ngài Thầu, xã Sì Lở Lầu. Ảnh: Đức Duẩn
Sinh kế gắn với giữ rừng, bám bản
Ở khu vực biên giới, một mô hình kinh tế không chỉ được tính bằng thu nhập. Khi người dân có sinh kế phù hợp, họ có thêm điều kiện ổn định cuộc sống ngay tại bản làng; khi rừng trở thành một phần của sinh kế, lợi ích từ rừng cũng gắn trực tiếp hơn với trách nhiệm bảo vệ rừng của mỗi gia đình. Đó là điểm giao thoa giữa phát triển kinh tế và nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới. Một địa bàn có đời sống ổn định sẽ tạo thêm điều kiện để người dân gắn bó với bản làng, tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ đường biên, mốc giới. Với Bộ đội Biên phòng, hỗ trợ người dân phát triển kinh tế vì thế không tách rời công tác dân vận. Từ việc cùng người dân tìm hướng sản xuất, kết nối các nguồn lực đến đồng hành trong quá trình triển khai, những việc làm cụ thể tạo thêm sự gắn bó giữa người lính Biên phòng với nhân dân.
Hiện tại cây sâm Lai Châu trồng tại Ngài Thầu cần thời gian để khẳng định hiệu quả; chuỗi liên kết vẫn phải tiếp tục hoàn thiện; các vấn đề về giống, kỹ thuật, vốn, chế biến và thị trường cần được giải quyết. Vì vậy, chưa thể nói trước kết quả cuối cùng của mô hình. Song điều có thể nhìn thấy từ bước đầu triển khai là một cách tiếp cận đang được hình thành: Tìm lợi thế ngay từ cơ sở, không làm thay người dân, huy động nhiều nguồn lực cùng tham gia và hướng tới để người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Nếu cách làm này tiếp tục được hoàn thiện, mỗi địa bàn có thể tìm cho mình một hướng đi dựa trên điều kiện thực tế. Nơi có lợi thế về dược liệu có thể phát triển dược liệu; nơi có thế mạnh về chăn nuôi, cây trồng hoặc sản phẩm bản địa có thể lựa chọn hướng khác. Điểm chung là tạo được sinh kế phù hợp để người dân có thêm điều kiện ổn định cuộc sống trên chính quê hương mình.
Từ cây sâm Lai Châu ở Ngài Thầu, điều đáng kỳ vọng không chỉ là một sản phẩm mới, mà còn là khả năng đánh thức những giá trị sẵn có ở vùng biên. Khi lợi thế của đất và rừng được chuyển thành sinh kế, người dân có thêm động lực bám bản, giữ rừng; từ đó, phát triển kinh tế cũng tạo thêm nền tảng cho "thế trận lòng dân". Hành trình ấy mới bắt đầu, nhưng hướng đi đã rõ: Phát huy lợi thế bản địa, để người dân làm chủ sinh kế và để mỗi bước phát triển của bản làng góp phần làm vững chắc hơn phên giậu nơi biên cương.

