'Tự chủ chiến lược về khoa học, công nghệ: Thời điểm chín muồi để hành động'

Tự chủ chiến lược khoa học, công nghệ không còn là mục tiêu xa mà là yêu cầu cấp thiết, khi nền tảng đã đủ và thời điểm hành động đã chín muồi. Từ những lợi thế riêng có như đất hiếm, rừng nhiệt đới, nguồn lợi thủy sản... Việt Nam có cơ sở làm chủ công nghệ từ nội lực, tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Vấn đề cốt lõi không nằm ở cam kết, mà ở năng lực hiện thực hóa bằng những sản phẩm và giá trị cụ thể, qua đó khẳng định vai trò và trách nhiệm của khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới.

Đó là khẳng định của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, khi trả lời phỏng vấn Báo Nhân Dân. Ông nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu sang tư duy kiến tạo giá trị, lấy kết quả thực tiễn làm thước đo, đồng thời chủ động gánh vác những nhiệm vụ khoa học và công nghệ có tính chiến lược, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Nền tảng vững, thời cơ đã chín, cần hành động ngay

Phóng viên: Thưa Giáo sư, thời gian qua, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có những kết quả nổi bật nào trong việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ trực tiếp đời sống người dân và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Có một câu hỏi mà những người làm khoa học chúng tôi luôn tự đặt ra: “tri thức tích lũy trong phòng thí nghiệm bao giờ thì chạm được đến đời sống thực của người dân?” Câu trả lời, tôi cho rằng, ngay bây giờ. Nhìn lại hơn 80 năm phát triển của đất nước, với sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế, các nhà khoa học Việt Nam đã được đào tạo bài bản trên đầy đủ các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản. Nền tảng tích lũy qua nhiều thế hệ đó đang cho phép chúng tôi trả lời câu hỏi ấy một cách thực chất: Đây chính là thời điểm chín muồi để không chỉ tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài, mà cùng các chuyên gia trong và ngoài nước chủ động làm chủ và phát triển thành công nghệ Việt Nam, sản phẩm Việt Nam phục vụ xây dựng và phát triển đất nước.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện có hơn 2.500 cán bộ khoa học đầu ngành, công bố hơn 2.300 công trình quốc tế mỗi năm, dẫn đầu cả nước theo chỉ số Nature Index và đăng ký trên 100 bằng sở hữu trí tuệ hàng năm. Quan trọng hơn, đội ngũ đó đã bắt đầu làm chủ những công nghệ cụ thể, bao gồm mô-đun tự lái trí tuệ nhân tạo cho phương tiện giao thông, công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 ứng dụng trên cây trồng chủ lực, công nghệ sản xuất hydro từ điện phân nước, chế tạo vật liệu điện cực cho pin thế hệ mới và y học cá thể hóa. Đây không phải là lắp ráp hay gia công theo thiết kế nước ngoài, mà là làm chủ thực sự từ nền tảng khoa học đến sản phẩm, không phải nhập khẩu và không phụ thuộc.

Chúng tôi xác định một hướng ưu tiên then chốt trong giai đoạn tới: Chủ động đưa khoa học, công nghệ ứng dụng ngay vào các ngành kinh tế mũi nhọn mà Việt Nam có lợi thế, đặc biệt là những lĩnh vực có tỷ lệ lớn người dân tham gia hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của nhiều người. Đây là con đường ngắn nhất để công nghệ Việt tạo ra giá trị lan tỏa trong xã hội.

Thí dụ, các ngành sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản là nhóm lĩnh vực chúng tôi đặt lên hàng đầu. Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu nông, lâm, thủy sản hàng đầu thế giới, với hàng chục triệu người dân gắn sinh kế trực tiếp với những ngành này.

Nghiên cứu về công nghệ chiến lược tại Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH).

Nghiên cứu về công nghệ chiến lược tại Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH).

Cùng với các doanh nghiệp và một số địa phương, Viện Hàn lâm đang nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và cơ sở dữ liệu để tối ưu hóa canh tác, giảm chi phí đầu vào và nâng cao giá trị gia tăng trên từng đơn vị diện tích. Trong chăn nuôi và thủy sản, công nghệ sinh học phục vụ phát triển vaccine thú y, chế phẩm sinh học phòng bệnh và giống chất lượng cao đang được triển khai, hướng đến vừa tăng năng suất, vừa đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của các thị trường xuất khẩu lớn. Đây là những việc khoa học có thể làm ngay và tạo ra tác động thiết thực nhất với người dân.

Gắn với hệ sinh thái rừng nhiệt đới, Việt Nam đang chuyển dịch tư duy từ trồng rừng để tăng độ che phủ sang khai thác rừng thông minh và bền vững. Với 14,8 triệu héc-ta rừng và mức độ đa dạng sinh học thuộc hàng cao nhất thế giới, chúng tôi tập trung khai thác giá trị dược liệu bản địa.

Có thể lấy thí dụ như với cây Thông đỏ tại tỉnh Lâm Đồng chứa hoạt chất Paclitaxel (tên thương mại Taxol), một trong những thuốc hóa trị hiệu quả nhất hiện nay trong điều trị ung thư buồng trứng, ung thư vú và ung thư phổi; nếu làm chủ được công nghệ chiết tách, bán tổng hợp và bào chế theo công nghệ nano hướng đích, giá trị tạo ra từ cùng một nguồn nguyên liệu có thể gấp 50 đến 100 lần. Chúng tôi đã đề xuất thành lập Trung tâm Y sinh tại Lâm Đồng để triển khai chuỗi hoàn chỉnh từ nguyên liệu bản địa đến thuốc thành phẩm, tạo sinh kế bền vững cho người dân gắn bó với rừng.

Ngoài ra, hơn 1,5 triệu héc-ta tre là nguồn sinh khối nhiệt đới chúng tôi đang hướng đến công nghiệp hóa theo hướng giá trị cao. Công nghệ tách cellulose từ tre để sản xuất sợi viscose có thể thay thế một phần cotton nhập khẩu cho ngành dệt may và đáp ứng yêu cầu nguyên liệu xanh từ các thị trường xuất khẩu lớn. Sợi và bột tre còn là vật liệu gia cường ưu việt cho polymer composite dùng trong xây dựng và linh kiện máy bay không người lái, với giá trị có thể tăng gấp 20 đến 30 lần so với cây tre nguyên liệu. Đây là hướng đi kết nối trực tiếp rừng, nông nghiệp và công nghiệp, tạo ra chuỗi giá trị mà từng mắt xích đều có lợi.

Về tài nguyên khoáng sản, Việt Nam sở hữu nguồn khoáng sản lớn với hơn 5.000 mỏ thuộc 60 loại khác nhau. Ba nguyên tố Neodymium, Praseodymium và Dysprosium là thành phần cốt lõi của nam châm NdFeB, không thể thiếu trong động cơ xe điện hiệu suất cao và tuabin điện gió. Chúng tôi đang nghiên cứu làm chủ chuỗi công nghệ từ tuyển quặng đến chế tạo nam châm thành phẩm, có thể tăng giá trị từ cùng một tấn quặng lên gấp 30 đến 50 lần. Từ bauxit Tây Nguyên trong quá trình chế biến còn có thể thu hồi gali, nguyên liệu bán dẫn chiến lược, với giá trị cao hơn alumin từ 500 đến 1.000 lần. Chúng tôi đã sẵn sàng phối hợp với Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam để triển khai thí điểm ngay tại các nhà máy hiện có.

Lễ khánh thành công trình Trung tâm Vũ trụ Việt Nam góp phần triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và định hướng phát triển các công nghệ chiến lược theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg.

Lễ khánh thành công trình Trung tâm Vũ trụ Việt Nam góp phần triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và định hướng phát triển các công nghệ chiến lược theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg.

Về công nghệ vũ trụ, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc vừa được khánh thành tháng 3/2026, là hạ tầng không gian quốc gia đầu tiên do chính đội ngũ kỹ sư và nhà khoa học Việt Nam vận hành, với sự đồng hành của Nhật Bản qua JAXA và JICA trong gần hai thập kỷ. Vệ tinh LOTUSat-1 sắp được phóng lên quỹ đạo sẽ cung cấp dữ liệu quan trắc phục vụ quản lý tài nguyên, giám sát thiên tai và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Nền kinh tế bay tầm thấp đang bùng nổ toàn cầu với hàng nghìn ứng dụng từ logistics không người lái, nông nghiệp thông minh đến ứng phó thiên tai; chúng tôi đặt mục tiêu trong 5 năm tới làm chủ dây chuyền sản xuất UAV lưỡng dụng với tỷ lệ nội địa hóa tiệm cận 90%, kết hợp với làm chủ sản xuất chip bán dẫn tiến trình trên 90nm.

Tôi cũng muốn nhắc đến một bài toán rất gần, rất thực: cát xây dựng cho các tuyến cao tốc tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nhu cầu khoảng 39 triệu m³ cát đắp nền trong khi cát sông chỉ đáp ứng được khoảng 20 triệu m³. Nguồn cát biển ven bờ với trữ lượng dự báo gần 150 tỷ m³ hoàn toàn có thể là lời giải.

Chúng tôi đang tham gia nghiên cứu xử lý cát nhiễm mặn theo các phương án phối trộn xi măng, gia cố địa kỹ thuật và kiểm soát hàm lượng muối để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật công trình. Bên cạnh đó, hệ thống cảnh báo ngập lụt thông minh tích hợp AI và tư vấn công nghệ cho không gian ngầm đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng là những bài toán Viện Hàn lâm có thể vào cuộc ngay bằng năng lực sẵn có.

Phóng viên: Sau Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Trung ương đã thống nhất chủ trương chuyển Viện Hàn lâm sang mô hình đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Xin Giáo sư cho biết việc chuyển đổi này sẽ tác động ra sao đến định hướng chiến lược, cơ chế hoạt động và vị thế của Viện? Đồng thời, Viện cần chuẩn bị những gì để thích ứng hiệu quả và tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ cao?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Để hiểu đúng ý nghĩa của quyết định này, trước hết cần đặt vào bức tranh tổng thể. Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đã thống nhất chủ trương chuyển năm cơ quan gồm: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sang mô hình đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương.

Năm cơ quan đại diện cho ba trụ cột nền tảng của sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên mới: định hướng tư tưởng thông qua hệ thống truyền thông, tri thức xã hội thông qua nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, và tri thức khoa học công nghệ thông qua nghiên cứu tự nhiên và kỹ thuật. Việc Đảng đặt cả ba trụ cột đó dưới sự lãnh đạo trực tiếp của mình ở cấp cao nhất cho thấy một nhận thức rõ ràng: Trong giai đoạn bứt phá, những lĩnh vực mang tính quyết định đối với vận mệnh quốc gia không thể được lãnh đạo theo cách gián tiếp.

Thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Thúc đẩy nghiên cứu khoa học và công nghệ tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Riêng với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đây là lần đầu tiên trong lịch sử một tổ chức nghiên cứu khoa học tự nhiên và công nghệ được đặt trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Đảng ở cấp cao nhất. Điều đó nói lên rằng Đảng coi khoa học công nghệ không phải là lĩnh vực kỹ thuật thuần túy, mà là vấn đề chiến lược và vấn đề của toàn dân tộc. Thông điệp đó hoàn toàn thống nhất với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và với khát vọng đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới bằng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh.

Về tác động đến định hướng chiến lược, vị thế mới đặt ra yêu cầu cao hơn nhưng cũng mở ra không gian rộng hơn. Viện Hàn lâm không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình tư vấn chiến lược, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ sự lãnh đạo của Đảng.

Kết quả nghiên cứu phải đến được với những nơi đưa ra quyết sách quan trọng nhất một cách thực chất và kịp thời hơn. Vị thế mới tạo điều kiện để Viện Hàn lâm tham mưu hình thành các chính sách khoa học đặc thù, tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế mà chúng tôi đã nhiều năm kiến nghị.

Về cơ chế hoạt động, vị thế mới mở ra cơ hội để thiết kế cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học theo logic của khoa học, không phải theo logic của quản lý hành chính thông thường. Vòng đời đầu tư cho nghiên cứu cơ bản có thể được kéo dài phù hợp với quy luật tích lũy tri thức. Cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài khoa học có thể được thiết kế linh hoạt hơn để cạnh tranh được với khu vực tư nhân và quốc tế. Đây là những điều chỉnh mang tính căn bản mà vị thế mới tạo ra điều kiện để tiếp cận.

Về phần chuẩn bị, chúng tôi đang tập trung vào ba hướng song song:

Thứ nhất là kiện toàn tổ chức theo hướng tinh gọn, tập trung vào các hướng nghiên cứu ưu tiên chiến lược, phù hợp với 11 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia.

Thứ hai là xây dựng lại chiến lược khoa học theo nguyên tắc: Từ nghiên cứu cơ bản nay đến làm chủ và phát triển công nghệ Việt, sản phẩm Việt phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn.

Thứ ba là tham mưu hình thành chính sách đặc thù để thu hút nhân tài khoa học, kể cả các chuyên gia người Việt đang công tác ở nước ngoài, tạo điều kiện để họ trở về và cống hiến trong môi trường xứng tầm.

Câu trả lời xứng đáng nhất với niềm tin mà Trung ương đã trao không phải là lời hứa hay tuyên bố, mà là chất lượng khoa học thực sự, là sản phẩm cụ thể và là đội ngũ liêm chính, tâm huyết. Mỗi cán bộ, nhà khoa học của Viện Hàn lâm đều hiểu điều đó.

Phóng viên: Một vấn đề được nhắc đến nhiều là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn vẫn còn lớn. Theo Giáo sư, đâu là những nút thắt thể chế quan trọng nhất đang cản trở quá trình chuyển hóa tri thức khoa học thành động lực phát triển kinh tế-xã hội? Viện Hàn lâm đã có giải pháp gì để thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Trước khi nói về những việc cần làm, tôi muốn ghi nhận một thực tế quan trọng: Bức tranh thể chế đã thay đổi rất tích cực trong thời gian gần đây. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực từ tháng 10 năm 2025, là bước đột phá thực sự về mặt pháp lý.

Nghiên cứu cơ bản làm nền, Viện Hàn lâm giữ vai trò đầu tàu công nghệ.

Nghiên cứu cơ bản làm nền, Viện Hàn lâm giữ vai trò đầu tàu công nghệ.

Luật đã chuyển mô hình quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trao cho các tổ chức khoa học và công nghệ quyền tự quyết về định hướng nghiên cứu, nhân sự và phân bổ tài chính, đồng thời xác lập cơ sở pháp lý để thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phân chia lợi ích theo mức độ đóng góp. Đây là nền tảng pháp lý tốt để chúng tôi triển khai mạnh hơn.

Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định ba hướng hành động trọng tâm để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng.

Thứ nhất, chúng tôi đang chủ động xây dựng thị trường công nghệ hoạt động thực chất, bởi có khung pháp lý tốt chưa phải là có thị trường công nghệ. Điều mà luật không thể tạo ra ngay được là đội ngũ môi giới công nghệ chuyên nghiệp, cơ chế định giá tài sản trí tuệ minh bạch và sự tin cậy lẫn nhau giữa nhà khoa học với doanh nghiệp, vốn có văn hóa và ngôn ngữ rất khác nhau. Tất cả phải qua thực tiễn vận hành mới hình thành được.

Vì vậy, chúng tôi đã ký kết hợp tác chiến lược với một số tập đoàn lớn trong nước để tiếp nhận đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thực tế, thay vì chờ doanh nghiệp tìm đến, đồng thời từng bước xây dựng đội ngũ trung gian kết nối hai phía.

Thứ hai, chúng tôi đang kiến nghị cơ chế ngân sách trung hạn ba đến năm năm cho các chương trình khoa học chiến lược, thoát khỏi ràng buộc của chu kỳ ngân sách thông thường. Lý do rất cụ thể: Nghiên cứu cơ bản cần từ mười đến hai mươi năm để cho ra kết quả ứng dụng, đó là quy luật của khoa học, không phải đặc thù của Việt Nam. Không có nguồn lực dài hạn thì không thể có công nghệ chiến lược bền vững. Trong vị thế mới trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương, chúng tôi có thêm điều kiện để kiến nghị này được xem xét thực chất hơn và đây sẽ là một trong những ưu tiên của chúng tôi trong thời gian tới.

Thứ ba, và quan trọng nhất, chúng tôi xác định Viện Hàn lâm là đầu mối hình thành hệ sinh thái kết nối bốn thành tố: cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và trường đại học, doanh nghiệp, và địa phương. Thiếu một thành tố hoặc cả bốn không gắn kết được với nhau thì tiềm lực khoa học dù lớn đến đâu cũng không thể chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế. Đây là bài toán hệ thống và chúng tôi không chờ nó tự giải quyết. Chúng tôi đang định hướng lại Học viện Khoa học và Công nghệ và Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội để đào tạo gắn trực tiếp với nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, tạo ra thế hệ nhà khoa học vừa có nền tảng lý thuyết vừa có kỹ năng ứng dụng, và cam kết đưa ra sản phẩm đo đếm được trong từng lĩnh vực ưu tiên, không dừng lại ở công bố quốc tế.

Bảo đảm nền tảng khoa học vững chắc phát triển công nghệ chiến lược

Phóng viên: Thưa Giáo sư, trong bối cảnh hợp tác quốc tế ngày càng giữ vai trò then chốt, Viện Hàn lâm chủ trương không chỉ tiếp nhận công nghệ hoàn chỉnh mà còn chủ động tham gia vào quá trình hình thành tri thức và nền tảng khoa học. Theo Giáo sư, cách tiếp cận này mang lại những lợi ích chiến lược gì và đã được Viện triển khai như thế nào trong thực tiễn?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Trong tư duy hợp tác quốc tế truyền thống, hội nhập thường được hiểu là tiếp nhận: tiếp nhận công nghệ, tiếp nhận tài trợ, tiếp nhận chuẩn mực từ các nước phát triển. Cách tiếp cận đó không sai, nhưng nó có một giới hạn cố hữu là người tiếp nhận mãi mãi đi sau người tạo ra.

Chúng tôi đang chuyển dịch sang một triết lý khác, đó là hợp tác để cùng các chuyên gia trong và ngoài nước phát triển công nghệ thành công nghệ Việt Nam, sản phẩm Việt Nam, thay vì chỉ là người tiêu thụ công nghệ do người khác tạo ra.

Sự khác biệt này là vấn đề chiến lược sâu xa. Khi nhà khoa học Việt Nam tham gia ngay từ giai đoạn nghiên cứu cơ bản cùng đối tác quốc tế, họ hiểu được bản chất của công nghệ từ bên trong, có thể thích nghi, cải tiến và phát triển nó thành sản phẩm mang thương hiệu Việt, phục vụ nhu cầu Việt. Đó là sự khác biệt giữa năng lực công nghệ thực sự và năng lực lắp ráp. Với một quốc gia đặt mục tiêu tự chủ chiến lược về khoa học công nghệ, chỉ loại thứ nhất mới có giá trị bền vững.

Trong thực tiễn, chúng tôi đang triển khai triết lý này qua các mô hình cụ thể đã được kiểm nghiệm. Với Nhật Bản, quan hệ hợp tác trong lĩnh vực vũ trụ mà kết quả hữu hình nhất là Trung tâm Vũ trụ Việt Nam và vệ tinh LOTUSat-1 đã đề cập ở trên, không dừng lại ở chuyển giao kỹ thuật. Trong suốt gần hai thập kỷ, đội ngũ kỹ sư và nhà khoa học Việt Nam đã cùng thiết kế, cùng thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật và cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Đây không phải là công trình Nhật Bản xây cho Việt Nam, mà là công trình hai bên cùng tạo ra, trong đó đội ngũ Việt Nam nắm giữ toàn bộ năng lực vận hành.

Với Pháp, Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội sau gần hai thập kỷ hoạt động là minh chứng của một mô hình khác: Đào tạo và nghiên cứu liên kết thực sự, nơi giảng viên hai phía cùng hướng dẫn nghiên cứu sinh, cùng ký tên trên các công bố quốc tế từ các phòng thí nghiệm đặt tại Hà Nội.

Không phải nhập khẩu giáo trình, không phải gửi sinh viên đi học, mà là xây dựng năng lực nghiên cứu ngay trên đất Việt Nam với chuẩn mực quốc tế. Với nhiều tổ chức đa phương và đối tác khác trong khu vực, chúng tôi tham gia các mạng lưới nghiên cứu toàn cầu với tư cách thành viên bình đẳng, đặt những câu hỏi nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh Việt Nam nhưng có giá trị phổ quát với cộng đồng khoa học quốc tế.

Bên trong Bảo tàng Vũ trụ Việt Nam.

Bên trong Bảo tàng Vũ trụ Việt Nam.

Lợi ích chiến lược của cách tiếp cận này không chỉ là công nghệ mà còn là con người. Những nhà khoa học đã từng là đồng tác giả với các nhóm nghiên cứu hàng đầu thế giới sẽ không bao giờ quay trở lại tư thế của người tiếp nhận. Họ biết mình có thể đặt câu hỏi ngang bằng, có thể phản biện và có thể dẫn dắt. Không có quốc gia nào thực sự mạnh về khoa học công nghệ mà thiếu đội ngũ khoa học đủ tự tin để đứng ngang hàng với thế giới và làm ra sản phẩm của chính mình. Xây dựng đội ngũ đó là việc chúng tôi đang làm, và đó cũng là lý do nghiên cứu cơ bản không thể bị coi là thứ xa xỉ trong giai đoạn này.

Phóng viên: Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 sản phẩm trọng điểm, từ trí tuệ nhân tạo, blockchain đến vật liệu mới, năng lượng tái tạo và công nghệ vũ trụ, đòi hỏi nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và tích lũy tri thức dài hạn. Từ góc độ quản lý, theo Giáo sư, cần xây dựng lộ trình như thế nào để phát triển hiệu quả, phù hợp với thực tiễn?

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái: Quyết định 1131/QĐ-TTg thể hiện tư duy chiến lược rõ ràng và lần đầu tiên chúng ta có một danh mục cụ thể về công nghệ ưu tiên, tạo cơ sở để tập trung nguồn lực có trọng tâm. Từ góc độ của người làm nghiên cứu, chúng tôi nhìn nhận đây là cơ hội để Viện Hàn lâm phát huy đúng vai trò nền tảng khoa học cho nhóm công nghệ đó, đồng thời chủ động đưa vào lộ trình những hướng ứng dụng gắn với lợi thế tài nguyên và sinh thái đặc thù của Việt Nam, phát triển thành công nghệ Việt, sản phẩm Việt phục vụ đời sống và xuất khẩu.

Từ góc độ quản lý, tôi cho rằng lộ trình cần được xây dựng theo tư duy phân kỳ rõ ràng, mỗi giai đoạn có logic và nhiệm vụ trọng tâm riêng. Trong một đến ba năm tới, ưu tiên hàng đầu là đưa ngay những kết quả nghiên cứu cơ bản đã tích lũy trong các viện và trường đại học vào ứng dụng thực tiễn, chuyển hóa thành công nghệ và sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, không cần chờ nghiên cứu mới. Kho tri thức tích lũy rất lớn và cần có cơ chế, cầu nối để đưa nó ra phục vụ cuộc sống. Ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ trong giai đoạn này cần ưu tiên cho việc khai thác và thương mại hóa những gì đã có, song song với tiếp tục đầu tư nghiên cứu mới.

Trong giai đoạn từ một đến năm năm, trọng tâm chuyển sang làm chủ và phát triển công nghệ gắn với lợi thế cấu trúc lâu dài của đất nước. Bên cạnh các hướng phổ quát như trí tuệ nhân tạo và bán dẫn, Viện Hàn lâm tập trung vào làm chủ chuỗi chế biến sâu đất hiếm và khoáng sản chiến lược; phát triển công nghệ vũ trụ và UAV phục vụ bảo vệ chủ quyền và quản lý tài nguyên; y sinh và dược liệu bản địa; ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản; và công nghệ phục vụ sinh kế rừng, kinh tế rừng bền vững. Phấn đấu đến năm 2030, Viện Hàn lâm hướng tới vị trí hàng đầu châu Á trong một số lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên, tập trung tạo ra những điểm nhọn thực sự.

Từ năm đến mười năm trở đi, cần đầu tư có chiều sâu cho nghiên cứu cơ bản, nguồn lực tạo ra bứt phá thực sự cho thập kỷ tiếp theo. Không có quốc gia nào thực sự mạnh về khoa học công nghệ mà lại bỏ qua nền tảng này. Hướng tới năm 2045, khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, nền khoa học Việt Nam không chỉ tiếp nhận và ứng dụng tri thức của thế giới mà phải đóng góp vào kho tàng tri thức đó. Thế hệ nhà khoa học trẻ hiện nay phải được đào tạo bài bản, được trao quyền và được tin tưởng để dẫn dắt trong 10 đến 15 năm tới. Đó là việc phải làm ngay hôm nay, vì khoa học chỉ phát triển bền vững khi mỗi thế hệ đặt nền cho thế hệ tiếp theo.

Vai trò của Viện Hàn lâm trong lộ trình đó là trụ cột nghiên cứu cơ bản và đầu tàu trong giai đoạn làm chủ và phát triển công nghệ, bảo đảm nền tảng khoa học vững chắc cho tất cả các hướng công nghệ chiến lược, đồng thời là cầu nối giữa tri thức học thuật và nhu cầu ứng dụng thực tiễn. Điều kiện tiên quyết để làm được điều đó là phải có cơ chế điều phối thực sự giữa các bộ, ngành, giữa nhà nước, viện trường, địa phương và doanh nghiệp. Viện Hàn lâm sẵn sàng là đầu mối của cơ chế điều phối đó.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

NGỌC HIẾU - BÍCH LIÊN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/tu-chu-chien-luoc-ve-khoa-hoc-cong-nghe-thoi-diem-chin-muoi-de-hanh-dong-post952966.html