Từ con đường làng đến mục tiêu đô thị Trung ương
Trong lộ trình phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Bắc Ninh xác định phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, bền vững, bao trùm cả khu vực đô thị và nông thôn là một trong những nhiệm vụ then chốt. Không bắt đầu từ những đại lộ hay trục giao thông lớn, tỉnh lựa chọn từ những con đường làng, ngõ xóm - nơi phản ánh rõ nét nhất chất lượng sống và mức độ thụ hưởng thành quả phát triển của Nhân dân để triển khai.
Đi thực địa để “đo” đúng nhu cầu từ cơ sở
Những ngày đầu năm 2026, Đoàn công tác của HĐND tỉnh do đồng chí Lâm Thị Hương Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm Trưởng đoàn đã tiến hành khảo sát thực tế hệ thống giao thông nông thôn tại một số xã trên địa bàn tỉnh.

Bà Ninh Thị Tám (thứ hai từ trái sang), thôn Cống, xã Kiên Lao sẵn sàng hiến đất, đóng góp ngày công để nâng cấp, mở rộng đường làng.
Tại xã miền núi Kiên Lao, địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, hệ thống giao thông nông thôn vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Dừng lại trên tuyến đường liên thôn đã được bê tông hóa nhưng mặt đường hẹp, chắp vá, đoạn cuối vẫn là đường đất, in hằn dấu bánh xe sau mỗi trận mưa. Theo báo cáo của lãnh đạo xã, toàn xã có 58 tuyến đường thôn, liên thôn với tổng chiều dài 48,07 km; trong đó vẫn còn 2,72 km là đường đất. Hệ thống đường ngõ xóm có 88 tuyến, dài 37,45 km nhưng còn tới 14,34 km chưa được cứng hóa. Đặt trong bối cảnh đời sống của người dân, những con số ấy không còn khô cứng. Đó là những ngày mưa, học sinh phải lội bùn đến trường; là nông sản khó vận chuyển, tiêu thụ; là chi phí sản xuất tăng lên vì giao thông cách trở.
Bà Ninh Thị Tám, người dân thôn Cống bày tỏ niềm phấn khởi khi biết tỉnh đang nghiên cứu chính sách hỗ trợ làm đường. Khi được hỏi nếu tỉnh hỗ trợ nguyên vật liệu, gia đình bà có sẵn sàng hiến đất, đóng góp ngày công để mở rộng đường xóm hay không, bà gật đầu chia sẻ: “Có đường rộng, đường đẹp thì bà con đi lại thuận tiện, con cháu đến trường đỡ vất vả, nông sản bán được giá hơn. Chúng tôi rất mong chủ trương này sớm được triển khai”.
Nếu Kiên Lao gặp khó khăn do điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, thì xã Sơn Hải lại đối mặt với thách thức từ chính địa hình đặc thù. Nằm trong lưu vực hồ Cấm Sơn, 3/4 diện tích xã thuộc lòng hồ, với hơn 40 km tiếp giáp đất sản xuất. Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt và sản xuất, song giao thông đường bộ kết nối các khu dân cư, vùng sản xuất với bến bãi, trung tâm xã vẫn còn nhiều bất cập. Toàn xã có 87 tuyến đường với tổng chiều dài hơn 107 km. Nhiều tuyến được bê tông hóa từ lâu nay đã xuống cấp nghiêm trọng. Đáng chú ý là vẫn còn hàng chục tuyến đường liên thôn chưa được cứng hóa dẫn đến việc đi lại, giao thương của người dân lại thêm phần gian nan.
Khảo sát thêm tại các xã: Tam Tiến, Xuân Lương, Tam Giang… cho thấy nhiều tuyến đường thôn, ngõ xóm ở đây mặc dù đã được đầu tư từ nhiều năm trước nhưng mặt đường hẹp, xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của địa phương. Những đoạn đường đất còn sót lại trở thành nỗi lo thường trực.
Tư duy mới trong xây dựng chính sách
Sau khi nghe báo cáo và trực tiếp khảo sát thực tế, đồng chí Lâm Thị Hương Thành nhấn mạnh: Hoạt động khảo sát lần này không chỉ dừng lại ở việc thống kê chiều dài đường hay tỷ lệ cứng hóa mà quan trọng hơn là lắng nghe tiếng nói từ cơ sở, nhận diện đầy đủ khó khăn, vướng mắc, làm căn cứ để HĐND tỉnh xây dựng Nghị quyết hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn trong giai đoạn tới. Theo định hướng, tỉnh sẽ ưu tiên các tuyến đường gắn trực tiếp với đời sống hằng ngày của Nhân dân như đường làng, ngõ xóm, đường thôn, liên thôn, đường nội đồng. Mục tiêu không chỉ là xóa bỏ đường đất, mà từng bước nâng cấp, mở rộng những tuyến đường đã được cứng hóa, phấn đấu mặt đường đạt tối thiểu từ 3,5 m trở lên. Các tuyến đường từng được hỗ trợ theo những Nghị quyết trước đây của HĐND tỉnh cũng sẽ được rà soát, xem xét tiếp tục hỗ trợ khi có nhu cầu.
Một điểm mới đáng chú ý là tỉnh đang nghiên cứu cơ chế hỗ trợ toàn diện hơn, không chỉ dừng lại ở hỗ trợ xi măng như trước, mà hướng tới hỗ trợ toàn bộ nguyên vật liệu, với định mức cụ thể cho từng loại đường, từng địa bàn. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ khó khăn cho các xã miền núi, vùng cao - nơi khả năng huy động nguồn lực tại chỗ còn hạn chế. Trong xây dựng Nghị quyết, vai trò của Nhân dân được đặt ở vị trí trung tâm. Nhà nước hỗ trợ vật liệu, địa phương và Nhân dân tham gia hiến đất, đóng góp ngày công lao động. Để chủ trương đi vào cuộc sống, công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân được xác định là yếu tố then chốt. Các địa phương cần rà soát kỹ từng tuyến đường, xác định rõ chiều dài, bề rộng, số hộ hưởng lợi; cân nhắc thận trọng đối với những tuyến quá dài nhưng phục vụ ít hộ dân, tránh đầu tư dàn trải, kém hiệu quả. Đồng thời, xác định rõ nhu cầu, khối lượng hỗ trợ theo từng giai đoạn, trước mắt là năm 2026.
Những chuyến khảo sát từ cơ sở cho thấy một cách làm nhất quán của tỉnh, đó là: Phát triển bắt đầu từ Nhân dân, vì Nhân dân. Những con đường làng, ngõ xóm được mở rộng, kiên cố hóa không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Đó chính là nền móng vững chắc để Bắc Ninh vững bước đi lên trong kỷ nguyên mới.












