Từ cứ điểm sản xuất đến điểm đến chiến lược
Nếu trước đây Việt Nam được nhìn chủ yếu như một cứ điểm sản xuất có chi phí cạnh tranh, thì giờ đây, ngày càng nhiều nhà đầu tư đang nhìn Việt Nam như một thị trường chiến lược và cứ điểm kinh doanh dài hạn.
Điểm đến chiến lược
Ít ngày trước đây, AEON Việt Nam đã chính thức khởi công xây dựng Trung tâm Thương mại AEON Phủ Lý, với vốn đầu tư 940 tỷ đồng (tương đương 36 triệu USD). Dự án này đã không chỉ đánh dấu bước mở rộng tiếp theo của AEON tại Đồng bằng sông Hồng, mà còn là bước đi tiếp theo trong hành trình hiện thực hóa chiến lược đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam của tập đoàn bán lẻ hàng đầu Nhật Bản.
Xác định Việt Nam là thị trường trọng điểm hàng đầu tại khu vực Đông Nam Á, mới đây, AEON đã chính thức công bố việc sẽ dồn lực cho thị trường này. “Chúng tôi dự kiến sẽ ưu tiên phân bổ khoảng 60% ngân sách đầu tư của toàn khu vực ASEAN cho thị trường Việt Nam”, ông Tezuka Daisuke, Thành viên Ban điều hành Tập đoàn AEON, Trưởng đại diện AEON tại Việt Nam kiêm Tổng giám đốc AEON Việt Nam, chia sẻ.

Nguồn: Cục Thống kê. Đồ họa: Phương Anh
AEON không phải là tập đoàn duy nhất coi Việt Nam là điểm đến chiến lược. LG Innotek mới đây cũng đã quyết định đầu tư 1 tỷ USD vào Hải Phòng để xây dựng Nhà máy Sản xuất đế mạch đóng gói bán dẫn, dự kiến khởi công vào quý III năm nay, vận hành thử nghiệm vào quý III năm sau.
Đây là cơ sở sản xuất bán dẫn đầu tiên của LG Innotek được xây dựng bên ngoài lãnh thổ Hàn Quốc và là dự án hoàn toàn độc lập với tổ hợp 3 nhà máy sản xuất module camera hiện hữu, với vốn đầu tư hơn 2 tỷ USD, của LG Innotek ở Hải Phòng. Điều này cho thấy LG Innotek đã “đặt cược” lớn thế nào ở thị trường đầu tư Việt Nam.
Cũng tại Hải Phòng, Công ty cổ phần Khu công nghiệp và Logistics Cảng nước sâu quốc tế Lạch Huyện (LHF) cùng đối tác PSA Việt Nam đã quyết định hợp tác nhằm cùng phát triển và vận hành 4 bến container nước sâu tại Cảng nước sâu quốc tế Lạch Huyện. Không chỉ là một thỏa thuận hợp tác phát triển cảng biển thông thường, tầm nhìn của LHF và PSA là phát triển Cảng Lạch Huyện trở thành một “Superhub” trong mạng lưới cảng biển toàn cầu của PSA.
“Việt Nam là một trong những nền kinh tế năng động và tăng trưởng nhanh nhất tại Đông Nam Á. Dự án này thể hiện cam kết lâu dài của PSA với thị trường”, ông Nelson Quek, Tổng giám đốc Khu vực Đông Nam Á, PSA International nói.
Ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho rằng, cần các giải pháp để nâng cao năng lực hấp thụ, đặc biệt là nâng cao chất lượng của khu vực doanh nghiệp trong nước và hoàn thiện hạ tầng cho phát triển sản xuất - kinh doanh, từ đó gia tăng độ sẵn sàng trong việc hợp tác với khu vực đầu tư nước ngoài. Đó chính là cách để Việt Nam có thể tối ưu hóa lợi ích của dòng FDI vẫn đang đổ mạnh vào Việt Nam.
Ngày càng nhiều nhà đầu tư nước ngoài coi trọng thị trường Việt Nam như vậy. Nếu như trước đây, Việt Nam được nhìn như một cứ điểm sản xuất có chi phí cạnh tranh, thì giờ đây, ngày càng nhiều nhà đầu tư đang nhìn Việt Nam như một thị trường chiến lược và cứ điểm kinh doanh dài hạn.
“Hiện có hơn một nửa thành viên của EuroCham coi Việt Nam là một trong những thị trường kinh doanh cốt lõi”, ông Bruno Jaspaert, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) cũng đã nói như vậy.
Chính vì coi trọng thị trường Việt Nam, nên các nhà đầu tư nước ngoài đang tiếp tục đổ vốn vào thị trường tiềm năng này. Số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, 7 tháng có hơn 38 tỷ USD vốn FDI đăng ký vào Việt Nam, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Trong số này, vốn đăng ký mới đạt 21,05 tỷ USD, tăng 109,7% so với cùng kỳ, vốn đăng ký điều chỉnh đạt 10,43 tỷ USD, tăng 4,44%; còn góp vốn, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD, tăng 61,62%. Cùng với đó, vốn thực hiện tiếp tục tăng cao, đạt trên 15,2 tỷ USD, tăng 11,76% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 7 tháng trong 5 năm qua.
Cục Đầu tư nước ngoài nhận định, mức tăng trưởng vượt trội của vốn đăng ký mới và giá trị góp vốn, mua cổ phần - hai chỉ tiêu phản ánh trực tiếp quyết định đầu tư mới và niềm tin của nhà đầu tư, cho thấy bất chấp những bất định từ bên ngoài, dòng vốn thực chất hướng vào Việt Nam vẫn duy trì đà mở rộng ổn định.
Bài toán giữ chân nhà đầu tư và tối ưu lợi ích
Khi các nhà đầu tư đã nhìn Việt Nam như một điểm đến chiến lược, dài hạn, bài toán của Việt Nam cũng phải được đặt ra một cách sâu rộng và toàn diện hơn: không chỉ làm thế nào để kéo dòng vốn đến, giữ vốn ở lại, mà còn là làm thế nào để mỗi đồng vốn quý giá đó giúp được nền kinh tế Việt Nam đi xa hơn trong chuỗi giá trị.
“Các ưu đãi chỉ đóng vai trò như yếu tố gia tăng bổ trợ, chứ không phải là lý do cốt lõi hay dài hạn để các tập đoàn đa quốc gia lựa chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tư”, ông Binu Jacob, Tổng giám đốc Nestlé Việt Nam nói và cho rằng, khi các tập đoàn toàn cầu như Nestlé duy trì và mở rộng quy mô hoạt động, điều đầu tiên giữ vai trò quyết định chính là sự tin tưởng vào các định hướng chiến lược do Chính phủ Việt Nam đặt ra. Đồng thời, các khuôn khổ chính sách đó cần đảm bảo tính minh bạch và có thể dự báo được.
“Chúng tôi hiểu rằng, sự điều chỉnh chính sách là điều luôn xảy ra trong quá trình phát triển, nhưng các thay đổi đó cần nằm trong lộ trình có thể dự báo trước. Điều các nhà đầu tư e ngại nhất chính là sự thiếu chắc chắn và tính bất ổn không thể dự báo”, ông Binu Jacob nói.
Trong khi đó, báo cáo BCI của EuroCham đã chỉ ra rằng, các nhà đầu tư châu Âu mong muốn Việt Nam tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện tính minh bạch và tính nhất quán của môi trường pháp lý, cũng như các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ, cải cách thể chế và chất lượng thực thi chính sách…
Đây là những vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực bán dẫn, công nghệ cao…, ngày càng gay gắt. Bên cạnh đó, theo bà Bùi Thu Thủy, Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, bối cảnh hiện nay, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc làm sao thu hút được nhiều hơn về quy mô vốn so với giai đoạn trước, mà phải hướng tới việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, đặc biệt là kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực nước ngoài với nguồn lực trong nước nhằm gia tăng nội lực của nền kinh tế.
Các vấn đề này đã được đặt ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW về Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và mới đây là Nghị quyết số 19-NQ/TW về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, khi phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 mới đây, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Bích Ngọc cũng đã nhấn mạnh rằng, đối với Việt Nam, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới không chỉ là thu hút thêm vốn, mà phải trả lời được 3 câu hỏi: Thứ nhất, chúng ta cần thu hút nguồn lực nào để phục vụ mô hình phát triển mới? Thứ hai, cần lựa chọn đối tác nào để nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu? Và thứ ba, quan trọng hơn cả, là làm thế nào để chuyển hóa nguồn lực bên ngoài thành năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và nội lực của nền kinh tế.
“Muốn nâng cao chất lượng của dòng vốn FDI thì mấu chốt quan trọng nhất là chúng ta phải nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế. Dòng vốn FDI tốt sẽ không tự động lan tỏa nếu như chúng ta thiếu đi năng lực hấp thụ”, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nói.


