Từ đất phèn Đồng Tháp Mười đến khát vọng 'thủ phủ khóm sinh thái' của Việt Nam
Có lần đứng giữa cánh đồng khóm ở vùng đất phèn Tân Phước cũ, nghe mùi lá khóm ngai ngái quyện trong gió chiều, mới hiểu vì sao người miền Tây thường nói: 'Đất này khó chiều, nhưng cây khóm thì chịu đất như người quê chịu cực'.
TỪ VÙNG ĐẤT “RỐN LŨ, RỐN PHÈN” NĂM XƯA
Ngày trước, nơi đây là vùng đất phèn hoang hóa của hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười. Mùa nắng đất nứt, mùa mưa nước ngập. Người dân đi khai hoang phải “ăn cơm dưới đất, ngủ võng trên tràm”.

Vùng đất Tân Phước cũ của Đồng Tháp hôm nay có một vùng khóm tập trung lớn nằm giữa hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù Đồng Tháp Mười. Ảnh: T.V
Vậy mà qua bao lớp người mở đất, cây khóm đã bén rễ, phủ xanh khoảng 16.500 ha, chiếm gần 50% diện tích đất sản xuất của vùng. Từ một vùng đất khó, khóm trở thành sinh kế của hàng chục ngàn hộ dân trên 4 xã mới: Hưng Thạnh, Tân Phước 1, Tân Phước 2 và Tân Phước 3.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở chuyện “trồng nhiều khóm”, thì vùng đất này sẽ mãi chỉ là nơi bán nguyên liệu thô. Giá lên thì vui, giá xuống thì lo. Được mùa lại thấp thỏm đầu ra.
Điều Đồng Tháp cần nghĩ lớn hơn không phải là một “vùng trồng khóm”, mà là một “hệ sinh thái kinh tế khóm”. Nhìn ra thế giới, những quốc gia thành công với cây khóm đều không đi theo tư duy mạnh ai nấy làm.
Ở Costa Rica, cây khóm được tổ chức như một ngành công nghiệp nông nghiệp hiện đại.
Từ giống, đất đai, logistics, chế biến đến truy xuất nguồn gốc đều nằm trong chuỗi liên kết chặt chẽ. Người nông dân không chỉ biết trồng, mà còn hiểu tiêu chuẩn thị trường châu Âu, dữ liệu thời tiết, quy trình an toàn sinh học và yêu cầu phát thải thấp.
Ở Philippines, quanh cây khóm không chỉ có ruộng khóm. Đó là cả hệ sinh thái gồm: Nhà máy chế biến, trung tâm nghiên cứu giống, kho lạnh, logistics, đào tạo nghề, dịch vụ kỹ thuật và cộng đồng doanh nghiệp phụ trợ. Một trái khóm đi ra thế giới kéo theo hàng ngàn việc làm phía sau.
Còn Thái Lan lại cho thấy một hướng đi khác: Phát triển mạnh công nghiệp chế biến sâu. Trái khóm không chỉ bán tươi mà trở thành nước ép, khóm sấy, thực phẩm đóng hộp, enzyme bromelain, mỹ phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi, phân hữu cơ từ phụ phẩm.
Giá trị gia tăng không nằm ở sản lượng, mà nằm ở khả năng “đi thêm nhiều vòng đời” của sản phẩm. Điểm chung của họ là không xem cây khóm chỉ là cây trồng. Họ xem đó là một ngành kinh tế tổng hợp.
Tân Phước cũ của Đồng Tháp hôm nay cũng đang có nhiều điều kiện để nghĩ theo hướng ấy. Không phải nơi nào cũng có được một vùng khóm tập trung lớn nằm giữa hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù Đồng Tháp Mười. Không phải nơi nào cũng có 3 giống khóm Queen, Cayenne và MD2 cùng tồn tại, tạo nên sự đa dạng sản phẩm và thị trường.
Cũng không phải nơi nào còn giữ được nét cộng đồng miền Tây giàu tính nghĩa tình, dễ hợp tác, dễ hình thành hội quán và hợp tác xã.
Đó không chỉ là lợi thế sản xuất. Đó là “căn cước sinh thái” của vùng đất. Có lẽ đã đến lúc Đồng Tháp định vị nơi đây như một “thủ phủ khóm sinh thái” của Việt Nam.
Một vùng đất nơi cây khóm được trồng theo tư duy công nghiệp hiện đại nhưng vẫn hài hòa với hệ sinh thái tự nhiên Đồng Tháp Mười.
Một vùng đất mà nông nghiệp không còn chỉ là sản xuất nguyên liệu, mà trở thành không gian tích hợp giữa sinh thái, công nghệ, du lịch, văn hóa và đổi mới sáng tạo.
Muốn vậy, điều đầu tiên là phải chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế hệ sinh thái ngành hàng. Nếu tư duy cũ là trồng thật nhiều, bán trái tươi, chạy theo sản lượng, thì tư duy mới phải là tối đa hóa giá trị trên từng héc-ta đất.
Một trái khóm không chỉ là trái cây. Nó có thể trở thành nước ép, khóm sấy, giấm sinh học, trà từ lá khóm, mỹ phẩm, enzyme, sợi dệt từ lá khóm, phân hữu cơ, sản phẩm OCOP, quà lưu niệm du lịch, hay câu chuyện văn hóa Đồng Tháp Mười.

Cánh đồng khóm trên vùng "rốn lũ, rốn phèn" năm xưa". Ảnh: Phan Hoàng Đạt.
Thế giới hôm nay không chỉ mua sản phẩm. Người ta mua câu chuyện, mua giá trị sinh thái, mua cảm xúc và niềm tin. Điều tiếp theo là phải tổ chức lại những “cánh đồng khóm”.
Hiện nay, sản xuất khóm vẫn còn phân tán, chi phí cao, chất lượng chưa đồng đều, khó truy xuất nguồn gốc. Nếu mỗi hộ nông dân tự sản xuất, tự bán, tự tìm đầu ra thì rất khó bước vào thị trường lớn.
Đồng Tháp cần hình thành những “cánh đồng khóm có tổ chức”: Vùng nguyên liệu lớn, lịch thời vụ đồng bộ, mã số vùng trồng, nhật ký số, truy xuất nguồn gốc, cơ giới hóa, liên kết doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Không thể bước vào nền nông nghiệp hiện đại bằng những “thửa ruộng dữ liệu manh mún”. Đặc biệt, với hệ sinh thái đất phèn Đồng Tháp Mười, hướng đi phù hợp nhất có lẽ là nông nghiệp sinh học và tuần hoàn.
Đất phèn rất nhạy cảm. Nếu lạm dụng hóa chất, đất sẽ nhanh suy kiệt, hệ sinh thái đất ngập nước sẽ bị tổn thương.
Vì vậy, vùng khóm tương lai cần đi theo hướng: Giảm phân hóa học, tăng sử dụng vi sinh, tái tạo sức khỏe đất, tuần hoàn phụ phẩm, giảm phát thải, quản trị môi trường bằng dữ liệu. Đó không chỉ là câu chuyện môi trường. Đó là giữ “tuổi thọ” cho cả vùng đất. Giữ cây khóm ở Đồng Tháp Mười không chỉ là giữ một loại cây trồng. Đó là giữ ký ức khai hoang, giữ hệ sinh thái đất ngập nước, giữ sinh kế cư dân vùng phèn, giữ cả một nét văn hóa của miền Tây.
"Giữ cây khóm ở Đồng Tháp Mười không chỉ là giữ một loại cây trồng.
Đó là giữ ký ức khai hoang, giữ hệ sinh thái đất ngập nước, giữ sinh kế cư dân vùng phèn, giữ cả một nét văn hóa của miền Tây."
Trong hành trình ấy, khoa học công nghệ, chuyển đổi số và AI sẽ đóng vai trò rất lớn.
Một vùng khóm hiện đại không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền miệng.
Cần có giống cấy mô, hệ thống cảm biến độ ẩm, bản đồ số vùng trồng, dự báo sâu bệnh bằng AI, dữ liệu thời tiết theo thời gian thực, truy xuất nguồn gốc blockchain, thương mại điện tử và phân tích thị trường số.
Ở đây, vai trò của Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh rất quan trọng. Nhà trường không nên chỉ đứng trong giảng đường, mà cần hiện diện trên cánh đồng khóm Đồng Tháp Mười.
Từ nghiên cứu giống mới, kỹ thuật sinh học, chuyển đổi số, đào tạo nông dân số đến hỗ trợ khởi nghiệp và kết nối doanh nghiệp chế biến, tất cả đều cần một “hệ sinh thái tri thức” đồng hành cùng nông dân.
Bởi tương lai của nông nghiệp không chỉ nằm ở cây trồng, mà nằm ở trình độ của người trồng.
Muốn hình thành người nông dân trồng khóm chuyên nghiệp thì hội quán và hợp tác xã phải trở thành “trường học cộng đồng”. Hội quán không chỉ để uống trà hay họp hành.
Hội quán phải là nơi chia sẻ dữ liệu thị trường, học kỹ thuật mới, bàn chuyện thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm, kết nối doanh nghiệp và nuôi dưỡng tinh thần hợp tác.
Từ “người trồng khóm”, phải dần hình thành “người làm kinh tế khóm”. Rồi từ cây khóm sẽ mở ra nhiều không gian khởi nghiệp: Giống cấy mô, chế biến sâu, du lịch trải nghiệm, thiết kế bao bì, logistics lạnh, thương mại điện tử, AI nông nghiệp, sản phẩm sinh học, kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm. Khi ấy, người trẻ sẽ thấy quê hương không chỉ là nơi để rời đi, mà còn là nơi có thể trở về để sáng tạo và lập nghiệp.
ĐẾN KHÁT VỌNG “THỦ PHỦ KHÓM SINH THÁI”
Có lẽ, để biến khát vọng ấy thành hiện thực, Đồng Tháp cần mạnh dạn gợi mở một mô hình điều phối mới: Hình thành “Ban điều hành Chương trình Thủ phủ khóm sinh thái Đồng Tháp Mười”.
Ngày trước, nơi đây là vùng đất phèn hoang hóa của hệ sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười. Mùa nắng đất nứt, mùa mưa nước ngập.
Người dân đi khai hoang phải “ăn cơm dưới đất, ngủ võng trên tràm”.
Từ một vùng đất khó, khóm trở thành sinh kế của hàng chục ngàn hộ dân trên 4 xã mới: Hưng Thạnh, Tân Phước 1, Tân Phước 2 và Tân Phước 3.
Ban điều hành này không chỉ là một bộ phận hành chính, mà phải là nơi kết nối tri thức, cộng đồng và thị trường quanh cây khóm.
Thành phần có thể gồm: Ngành nông nghiệp của 4 xã: Hưng Thạnh, Tân Phước 1, Tân Phước 2, Tân Phước 3; các hợp tác xã khóm; các hội quán nông dân; doanh nghiệp chế biến; doanh nghiệp khởi nghiệp; nhà khoa học; chuyên gia chuyển đổi số; những nông dân tiên phong và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh với vai trò đối tác tri thức chiến lược.
Chương trình ấy hình thành nhiều nhóm nghiên cứu và hành động chuyên đề: Nhóm giống và nông nghiệp sinh học; nhóm AI và chuyển đổi số ngành khóm; nhóm chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn; nhóm xây dựng thương hiệu và thương mại điện tử; nhóm du lịch nông nghiệp và công nghiệp văn hóa; nhóm đào tạo nông dân chuyên nghiệp; nhóm logistics và thị trường xuất khẩu.
Mỗi nhóm không chỉ nghiên cứu trên giấy, mà cần có mô hình thực nghiệm ngay trên cánh đồng, ngay tại hội quán, ngay trong hợp tác xã.

Giữ cây khóm ở Đồng Tháp Mười là giữ cả một nét văn hóa của miền Tây.
Quan trọng hơn, Đồng Tháp cần chủ động mời gọi những doanh nghiệp có tiềm năng hợp tác đầu tư cùng tham gia kiến tạo hệ sinh thái ngành hàng khóm như: Doanh nghiệp chế biến thực phẩm; doanh nghiệp logistics lạnh; doanh nghiệp AI nông nghiệp; doanh nghiệp công nghệ sinh học; doanh nghiệp du lịch trải nghiệm; doanh nghiệp thương mại điện tử; các quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo xanh.
Khi doanh nghiệp không chỉ “mua nguyên liệu”, mà cùng địa phương xây dựng vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu và chia sẻ giá trị với nông dân, lúc ấy mới hình thành được một hệ sinh thái phát triển bền vững.
Có thể bắt đầu bằng những việc rất cụ thể như: Xây dựng “Bản đồ số khóm Đồng Tháp”; hình thành “Hội quán khóm số”; thí điểm “Cánh đồng khóm AI”; xây dựng trung tâm trải nghiệm khóm Đồng Tháp Mười; tổ chức lễ hội khóm gắn với công nghiệp văn hóa; phát triển bộ nhận diện “Khóm sinh thái Đồng Tháp”.
Bởi sau cùng, giữ cây khóm ở Đồng Tháp Mười không chỉ là giữ một loại cây trồng. Đó là giữ ký ức khai hoang, giữ hệ sinh thái đất ngập nước, giữ sinh kế cư dân vùng phèn, giữ cả một nét văn hóa của miền Tây.
Và biết đâu một ngày nào đó, khi nhắc đến khóm, người ta không chỉ nhớ Costa Rica hay Philippines. Người ta sẽ nhớ đến Đồng Tháp - một vùng đất đã biến đất phèn thành giá trị. Biến cây khóm thành thương hiệu và biến người nông dân thành trung tâm của một hệ sinh thái phát triển mới.











