Từ đổi mới tư duy quản trị đến khát vọng phát triển đất nước

Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở một tư duy phát triển toàn diện, đặt ra bốn bước chuyển chiến lược về tổ chức bộ máy, quản trị nguồn lực, mô hình tăng trưởng và năng lực phòng ngừa rủi ro. Trong đó, thông điệp có ý nghĩa sâu sắc là đất nước không chỉ cần phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, mà còn phải nhân văn hơn; không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức và tình người.

Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV. Ảnh: TTXVN

Từ sắp xếp bộ máy đến hình thành năng lực phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV diễn ra trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang khẩn trương đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống. Đây cũng là giai đoạn thế giới có những biến động nhanh chóng, rộng lớn và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, sự phân hóa của kinh tế toàn cầu, chuyển dịch công nghệ, năng lượng, dữ liệu, biến đổi khí hậu và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra cả cơ hội lẫn những thách thức chưa từng có.

Trong bối cảnh ấy, một đất nước muốn phát triển không thể chỉ có mục tiêu đúng, khát vọng lớn, mà còn phải có năng lực hành động đủ mạnh để chuyển hóa khát vọng thành kết quả thực tế. Chính vì vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rằng Hội nghị Trung ương 3 phải chuyển những định hướng chiến lược của Đại hội XIV thành các quyết sách tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo ra năng lực phát triển mới.

Điều đáng chú ý là mỗi quyết sách đều phải trả lời rõ ba câu hỏi: tháo gỡ điểm nghẽn nào, tạo ra năng lực mới nào và cần những điều kiện gì để thực hiện hiệu quả. Đây là một cách đặt vấn đề rất cụ thể, thể hiện sự chuyển đổi từ tư duy ban hành chủ trương sang tư duy quản trị bằng kết quả.

Một chính sách không thể chỉ được đánh giá bởi mục tiêu đúng đắn hay quy trình xây dựng đầy đủ. Điều quan trọng hơn là chính sách ấy giải quyết được vấn đề gì, tạo ra thay đổi nào và người dân được hưởng lợi ra sao. Chính sự chuyển đổi này sẽ tạo nên một nền quản trị chủ động hơn, trách nhiệm hơn, gần với thực tiễn và nhu cầu của cuộc sống hơn.

Bốn bước chuyển chiến lược được nêu trong bài phát biểu tạo thành một hệ thống thống nhất. Trước hết là chuyển từ sắp xếp tổ chức sang nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và hệ thống chính trị. Sắp xếp bộ máy tinh gọn là một công việc rất quan trọng, nhưng đó mới chỉ là điều kiện. Mục tiêu cuối cùng phải là Đảng lãnh đạo hiệu quả hơn, Nhà nước quản trị tốt hơn, bộ máy vận hành nhanh hơn, người dân và doanh nghiệp được phục vụ tốt hơn.

Vì thế, kết quả của việc tinh gọn bộ máy không thể chỉ đo bằng số lượng đầu mối được giảm, mà phải được đánh giá bằng sự thông suốt trong vận hành, sự rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm, tốc độ giải quyết công việc và mức độ hài lòng của Nhân dân. Phân cấp không chỉ là giao thêm nhiệm vụ, mà phải đi cùng thẩm quyền, nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và công cụ thực thi. Cán bộ phải được đánh giá bằng phẩm chất, năng lực, sản phẩm, tiến độ và uy tín; người đứng đầu phải thực sự là trung tâm trách nhiệm.

Bước chuyển thứ hai là từ quản lý phân tán sang quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia. Đây là yêu cầu vượt qua tư duy phát triển bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Đất đai, biển, đô thị, hạ tầng, tài nguyên và dữ liệu phải được nhìn nhận trong một chỉnh thể; lợi thế của từng địa phương phải được kết nối với lợi thế vùng và chiến lược quốc gia.

Không gian hành chính có thể có ranh giới, nhưng không gian kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường luôn có sự liên kết, tác động qua lại. Nếu mỗi địa phương chỉ khai thác lợi thế riêng, thiếu phối hợp và chia sẻ, nguồn lực sẽ bị phân tán, thậm chí tạo ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh. Ngược lại, khi các địa phương biết liên kết, bổ sung cho nhau, những tiềm năng riêng lẻ có thể trở thành sức mạnh tổng hợp của cả vùng và đất nước.

Bước chuyển thứ ba là xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Đây là sự thay đổi căn bản từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, tài nguyên, gia công và lao động giá rẻ sang phát triển bằng năng lực nội sinh, trí tuệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.

Trong cạnh tranh toàn cầu hiện nay, lợi thế về tài nguyên hay chi phí lao động thấp ngày càng bị thu hẹp. Quốc gia nào làm chủ được công nghệ, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao và năng lực sáng tạo sẽ có cơ hội chiếm lĩnh những khâu có giá trị gia tăng lớn hơn. Vì vậy, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải được chuyển hóa thành năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thương hiệu và sức cạnh tranh thực tế của nền kinh tế, chứ không chỉ dừng lại ở các chương trình hay phong trào.

Bước chuyển thứ tư là từ xử lý từng nguy cơ sang chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu và bảo vệ vững chắc đất nước. Trong một thế giới mà các nguy cơ an ninh, kinh tế, môi trường, khí hậu, dữ liệu và công nghệ ngày càng đan xen, chúng ta không thể chỉ hành động sau khi thiệt hại đã xảy ra. Quản trị hiện đại phải dựa trên dự báo, cảnh báo sớm, chuẩn bị các kịch bản và phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Bốn bước chuyển ấy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Tổ chức và con người tạo ra năng lực hành động; thể chế và không gian phát triển khơi thông nguồn lực; mô hình tăng trưởng chuyển các nguồn lực thành năng suất và của cải; năng lực phòng ngừa bảo đảm quá trình phát triển diễn ra an toàn, liên tục và bền vững.

Văn hóa là nền tảng để phát triển đúng hướng và bền vững

Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, bên cạnh những vấn đề về tổ chức bộ máy, thể chế, kinh tế, công nghệ và an ninh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dành sự nhấn mạnh đặc biệt cho mục tiêu xây dựng một xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa và phát triển.

Điều này cho thấy tư duy phát triển được đặt trong một chỉnh thể, không tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế và không xem GDP là thước đo duy nhất của tiến bộ. Phát triển phải làm cho quy mô nền kinh tế lớn hơn, nhưng đồng thời cũng phải làm cho xã hội tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết hơn và niềm tin được củng cố hơn.

Thông điệp “không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người” có ý nghĩa cảnh tỉnh sâu sắc. Đây không chỉ là một lời nhắc nhở về mặt trái của quá trình phát triển, mà còn là một nguyên tắc định hướng đối với mọi chủ trương, chính sách trong giai đoạn mới.

Một xã hội có thể có nhiều công trình hiện đại, những thành phố lớn, tốc độ tăng trưởng cao và các công nghệ tiên tiến. Nhưng nếu khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, con người trở nên vô cảm, các mối quan hệ cộng đồng bị đứt gãy, đạo đức suy giảm và người yếu thế bị đẩy ra bên lề, thì sự phát triển ấy chưa thể được coi là thành công.

Văn hóa, trong ý nghĩa đó, không phải là phần trang trí đi sau kinh tế. Văn hóa là nền tảng tinh thần, là nguồn lực nội sinh và là hệ điều tiết giúp sự phát triển giữ được sự cân bằng, nhân văn và đúng hướng.

Kinh tế giúp tạo ra của cải, công nghệ giúp nâng cao năng suất, nhưng văn hóa quyết định chúng ta sử dụng của cải và công nghệ ấy vì mục tiêu gì. Một xã hội phát triển không chỉ cần những con người có tri thức và kỹ năng, mà còn cần những công dân có lòng nhân ái, trách nhiệm, ý thức cộng đồng, khát vọng cống hiến và niềm tự hào dân tộc.

Chính vì thế, việc xác lập mô hình phát triển dựa trên con người không thể chỉ được hiểu là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Con người không chỉ là “đầu vào” của tăng trưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo và là mục tiêu cuối cùng của phát triển. Mọi chính sách kinh tế, khoa học, công nghệ hay đô thị đều phải góp phần mở rộng cơ hội phát triển, nâng cao phẩm giá, chất lượng sống và hạnh phúc của mỗi người dân.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Công nghệ có thể giúp con người kết nối nhanh hơn, làm việc hiệu quả hơn và tạo ra nhiều sản phẩm hơn, nhưng cũng có thể làm gia tăng khoảng cách số, tạo ra những bất bình đẳng mới và tác động đến các giá trị đạo đức, lối sống, quan hệ xã hội.

Do đó, phát triển công nghệ phải luôn đi cùng phát triển văn hóa số, đạo đức số và trách nhiệm xã hội. Chúng ta cần những công dân không chỉ biết sử dụng công nghệ, mà còn biết sử dụng công nghệ một cách nhân văn, có trách nhiệm; những doanh nghiệp không chỉ tìm kiếm lợi nhuận, mà còn biết tôn trọng cộng đồng, môi trường và các giá trị văn hóa dân tộc.

Bài phát biểu cũng đặt ra yêu cầu không để tăng trưởng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc đẩy người yếu thế ra bên lề. Điều này cho thấy mục tiêu của phát triển phải mang tính bao trùm. Thành quả tăng trưởng phải được chuyển hóa thành cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, việc làm, môi trường sống và khả năng thụ hưởng văn hóa tốt hơn cho Nhân dân.

Từ góc độ văn hóa, một xã hội hạnh phúc không chỉ được tạo nên bởi thu nhập cao, mà còn bởi niềm tin, sự gắn kết, cảm giác an toàn, cơ hội tham gia và khả năng sáng tạo của mỗi người. Các thiết chế văn hóa, không gian công cộng, hoạt động nghệ thuật, di sản và đời sống tinh thần vì thế cần được quan tâm như những thành tố thiết yếu của chất lượng sống, chứ không phải những nhu cầu thứ yếu.

Thông điệp sâu xa của bài phát biểu là phát triển phải đặt con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật và kỷ cương làm trụ cột; kết hợp pháp trị với đức trị, quyền với trách nhiệm. Thước đo cuối cùng phải là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của Nhân dân.

Để những tư tưởng ấy trở thành hiện thực, khâu quyết định vẫn là tổ chức thực hiện. Sau Hội nghị, mỗi nghị quyết, kết luận phải được cụ thể hóa ngay thành chương trình và kế hoạch hành động, bảo đảm rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm và rõ kết quả.

Đây là yêu cầu khắc phục tình trạng chủ trương đúng nhưng thể chế hóa chậm, tổ chức thực hiện chưa nghiêm và hiệu quả chưa cao. Mỗi quyết sách phải được kiểm chứng bằng những chuyển biến cụ thể: Bộ máy vận hành tốt hơn, nguồn lực được khơi thông mạnh mẽ hơn, kinh tế có năng suất cao hơn, môi trường sống an toàn hơn, văn hóa lành mạnh hơn và người dân hạnh phúc hơn.

Bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV vì thế không chỉ xác định những nhiệm vụ trước mắt, mà còn gợi mở một triết lý phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới: Phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hiện đại nhưng không đánh mất bản sắc; giàu mạnh về kinh tế nhưng đồng thời phải giàu có về văn hóa, đạo đức và tình người.

Đó cũng chính là con đường để Việt Nam không chỉ vươn lên bằng sức mạnh kinh tế và công nghệ, mà còn bằng chiều sâu văn hóa, phẩm giá con người và niềm tin của Nhân dân.

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/tu-doi-moi-tu-duy-quan-tri-den-khat-vong-phat-trien-dat-nuoc-247618.html