Từ Geneva đến Paris - 'Ngoại giao ta đã thắng to'
Hội nghị Geneva (tháng 7-1954) và Paris (tháng 1-1973) kết thúc bằng việc ký kết thành công các hiệp định là mốc son chói lọi trong hành trình 30 năm kháng chiến trường kỳ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Đây là hai sự kiện điển hình, khẳng định 'ngoại giao ta đã thắng to' (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh) và ngoại giao thực sự đã trở thành mặt trận đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa chiến lược cùng với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị làm nên chiến thắng chung.
Hội nghị Geneva: Đánh dẫn đến đàm
Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa-nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời. Nhưng ngay sau đó, chính quyền cách mạng non trẻ lại bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trở lại. Với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà thực dân Pháp rêu rao là “bất khả chiến bại” bị tiêu diệt. Tuy nhiên, những tập đoàn chiến lược khác ở Hà Nội, Sài Gòn và Bộ thống soái của Pháp ở Đông Dương vẫn còn. Tất yếu phải diễn ra cuộc đàm phán hòa bình để buộc Pháp rút quân khỏi Đông Dương. Ngày 8-5-1954, một ngày sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hội nghị Geneva về lập lại hòa bình ở Đông Dương khai mạc. Với tư thế chiến thắng, đoàn Việt Nam do Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng dẫn đầu lần đầu tiên có mặt tại một hội nghị quốc tế với tư cách một bên đàm phán độc lập.
Đồng chí Hoàng Nguyên (1924-2007), nguyên Vụ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Tổng biên tập Báo Tin Việt Nam, khi đó là phiên dịch của đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Geneva, từng kể: “Công việc đầu tiên của đoàn Việt Nam tại Geneva là tuyên bố cho phép Pháp được lấy thương binh ở Điện Biên Phủ và cương quyết với đề nghị 8 điểm. Suốt cuộc đàm phán, phái đoàn 3 nước Đông Dương đều dựa vào thế thắng của Việt Nam để đáp trả các thủ đoạn xảo trá của phương Tây”.

Từ Geneva đến Paris - “Ngoại giao ta đã thắng to”. Ảnh: Toàn cảnh Hội nghị Geneva (Ảnh tư liệu)
Hội nghị Geneva diễn ra trong 75 ngày, với 31 phiên họp (8 phiên họp rộng, 23 phiên họp hẹp cấp trưởng đoàn). Tại hội nghị, hoạt động của đoàn ta diễn ra khẩn trương với các phiên họp, cuộc tiếp xúc và làm việc với đoàn Liên Xô, Trung Quốc để phối hợp tìm giải pháp. “Tuy nhiên, ta cũng gặp nhiều khó khăn, hạn chế do còn phải đối phó với những toan tính, sự dàn xếp của các nước lớn, kể cả trong phe ta về giải pháp chính trị, nhất là về vấn đề giới tuyến và thời hạn tổng tuyển cử. Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, đoàn ta cũng tổ chức nhiều cuộc họp báo, tiếp xúc với hàng trăm đoàn thể nhân dân và chính giới Pháp ở Geneva. Qua đó, ta vừa kiên trì giải thích lập trường, vừa bày tỏ thiện chí và quyết tâm của ta trong đàm phán. Đồng thời tố cáo hành động hiếu chiến của thực dân Pháp và âm mưu phá hoại hội nghị của Mỹ. Đông đảo dư luận quốc tế ủng hộ lập trường của ta và đòi Chính phủ Pháp thực sự thương lượng để lập lại hòa bình ở Đông Dương” - đồng chí Hoàng Nguyên kể lại trong hồi ký.
Trong thời gian này, ở trong nước diễn ra hội nghị giữa Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng liên hiệp Pháp ở Đông Dương (Hội nghị quân sự Trung Giã) bàn về vấn đề thực hiện ngừng bắn, trao trả tù binh. Theo Đại tá Lưu Văn Lợi (1913-2016), nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, bấy giờ đóng vai Thiếu tá Nguyễn Văn Lê, sĩ quan liên lạc tại Hội nghị quân sự Trung Giã, trong khi Hội nghị Geneva bàn và thỏa thuận giải pháp quân sự, chính trị cho chiến tranh Đông Dương thì với công tác chuẩn bị cho ngừng bắn, 23 ngày làm việc của Hội nghị quân sự Trung Giã có ý nghĩa và tác dụng riêng. Ông khẳng định: “Ngừng bắn được thực hiện đúng thời hạn và Ủy ban liên hợp giải quyết tốt các vấn đề như Hiệp định Geneva quy định là nhờ Hội nghị quân sự Trung Giã đã chuẩn bị tốt các điều kiện”.
Ngày 20-7-1954, Hiệp định Geneva về đình chỉ chiến sự, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết. Mặc dù giải pháp Geneva chưa phản ánh đầy đủ những thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường cùng xu thế của cuộc đấu tranh giữa ta và Pháp, nhưng việc hiệp định được ký kết vẫn là một thắng lợi của nhân dân ta nói riêng và 3 nước Đông Dương nói chung.
Là một mốc lịch sử khẳng định “ngoại giao ta đã thắng to”, Hiệp định Geneva và các văn kiện liên quan tạo tiền đề quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc sau này. Lần đầu tiên, các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được các nước lớn công nhận tại một hội nghị đa phương. Pháp và các nước tham gia hội nghị “cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”, “tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị” của Việt Nam, Lào và Campuchia. Pháp buộc phải đình chỉ chiến sự và rút hoàn toàn quân đội khỏi lãnh thổ 3 nước Đông Dương.
“Tại Hội nghị Geneva, chúng ta đàm phán tại một diễn đàn đa phương do các nước lớn chi phối với những tính toán mà ta chưa hiểu được thấu đáo. Vì vậy, thế thắng của Việt Nam tại Geneva chưa được phát huy ở mức cao nhất. Tuy nhiên, về mặt ngoại giao, ta đã có những bài học, kinh nghiệm quý khi tiến đến Hội nghị Paris 1973"-nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên phát biểu tại hội thảo kỷ niệm 60 năm Ngày ký Hiệp định Geneva (tháng 7-2014).
Hội nghị Paris: Vừa đánh vừa đàm
Gần 20 năm sau Hội nghị Geneva, tại Paris (Pháp), cuộc đàm phán kéo dài 4 năm 8 tháng, qua 201 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ kết thúc bằng việc Hiệp định Paris được ký kết. Hiệp định giải quyết những vấn đề cốt lõi: Buộc Mỹ phải chấm dứt can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, rút hết quân, cố vấn và căn cứ quân sự ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đây là một trong những thắng lợi mở đường cho cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đi tới thắng lợi hoàn toàn. Qua đó, tiếp tục khẳng định bản lĩnh ngoại giao Việt Nam.
Từ năm 1965, Mỹ đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam và tiến hành chiến tranh leo thang phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam. Cùng với đó, đối phương còn tiến hành nhiều cuộc vận động ngoại giao với danh nghĩa giải quyết vấn đề Việt Nam nhưng thực chất là đòi Việt Nam thương lượng không điều kiện. Khẳng định quyết tâm chiến đấu chống đế quốc xâm lược, phản bác các luận điệu hòa bình giả hiệu của nhà cầm quyền Mỹ, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (tháng 1-1967) xác định: Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở Việt Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao.

Quang cảnh một phiên họp toàn thể tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris ngày 27-1-1973. Ảnh tư liệu
Ngày 13-5-1968, Hội nghị Paris khai mạc, đánh dấu cuộc đọ sức vừa đánh vừa đàm của Việt Nam với Mỹ chính thức bắt đầu. Giai đoạn 1 (từ ngày 13-5 đến 31-10-1968), đàm phán hai bên giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mỹ diễn ra gần như đồng thời với đợt 2 và 3 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Mục tiêu của ta là đòi Mỹ chấm dứt ném bom vô điều kiện miền Bắc. Sau khi Mỹ chấm dứt ném bom, giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 25-1-1969, đàm phán 4 bên cùng các cuộc gặp riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Mỹ H.Kissinger, đi đến ký Hiệp định Paris về Việt Nam.
Trên thực tế, cục diện vừa đánh vừa đàm phát huy cao độ vào cuối hội nghị. Chính quyền Mỹ ráo riết thực hiện chính sách ngoại giao con thoi, tìm mọi cách để cô lập Việt Nam, thực hiện đàm phán với ta trên thế mạnh, ép ta nhượng bộ và chấp nhận những đòi hỏi phi lý. Khi không có thỏa hiệp, Mỹ đơn phương ngừng không thời hạn Hội nghị Paris. Thậm chí, để phá thế bế tắc, từ ngày 18 đến 30-12-1972, Mỹ sử dụng máy bay B-52 ném hàng vạn tấn bom xuống các tỉnh, thành phố miền Bắc nước ta. Nhưng bằng Chiến thắng "Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không", Việt Nam đánh trận quyết định buộc Mỹ phải ngừng ném bom phía Bắc Vĩ tuyến 20, chấp nhận nối lại đàm phán Paris. Bằng chiến thắng về quân sự, tại bàn đàm phán, chúng ta đưa ra những yêu cầu cao đối với Mỹ, buộc đối phương rút quân. Quân đội ta vẫn ở lại miền Nam.
Sinh thời, tại nhà riêng ở chung cư nằm trên phố Tây Sơn (Hà Nội), ông Võ Văn Sung (1928-2018), nguyên Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Pháp, một trong 5 thành viên chính thức của Việt Nam trong lễ ký kết Hiệp định Paris cho biết, tháng 11-1970, ông sang Pháp làm Tổng đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ông được giao một nhiệm vụ rất hệ trọng: Tham gia nhóm làm việc của Cố vấn Lê Đức Thọ đàm phán bí mật với Kissinger. Khi Tổng thống Mỹ Nixon tuyên bố bỏ đàm phán vô thời hạn, Cố vấn Lê Đức Thọ gặp riêng Tổng đại diện Võ Văn Sung, lưu ý chuẩn bị sẵn kế hoạch phối hợp với trong nước vì khả năng Mỹ sẽ đánh Hà Nội. Với chất giọng Huế nhẹ nhàng, Đại sứ Võ Văn Sung kể: “Tiếp xúc với Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Schumann ngày 27-11-1972, tôi thẳng thắn bày tỏ quan điểm của ta sẽ trở lại đàm phán với thiện chí. Chúng ta muốn hòa bình nhưng không phải bằng bất cứ giá nào. Nếu Mỹ vẫn muốn đánh nhau thì Việt Nam quyết đánh. Dư luận không nên bị ru ngủ. Tôi đề nghị nước Pháp lên án mạnh mẽ hơn nữa cuộc leo thang đánh phá của Mỹ, đồng thời tích cực tổ chức các hoạt động với chính quyền, bạn bè Pháp, bà con Việt kiều cũng như bạn bè quốc tế. Tôi thấy chưa có một hội nghị đàm phán quốc tế kéo dài trong gần 5 năm mà lực lượng kiều bào tham gia trực tiếp vào công việc như cuộc đàm phán của ta với Mỹ ở Paris. Một số trí thức giỏi về ngôn ngữ trực tiếp giúp hai đoàn về các mặt, có người còn chuyển vào ở chung với hai đoàn. Đó là chưa nói các hoạt động bên ngoài đàm phán như các cuộc biểu tình, tuần hành, mít tinh cùng bạn Pháp và các nước lân cận để ủng hộ lập trường của ta trong đàm phán”...

Nụ cười rạng rỡ của "bà hoàng Việt cộng" Nguyễn Thị Bình. Ảnh tư liệu

Bà Nguyễn Thị Bình (ngồi ngoài cùng, bên trái) cùng các đồng chí đại diện hai phái đoàn của ta tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu
Quá trình tác nghiệp, chúng tôi có may mắn gặp một số cán bộ từng tham gia Hội nghị Paris và được nghe nhiều câu chuyện thú vị xung quanh bàn đàm phán. Trung tướng Đoàn Chương (1927-2010), nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng, Tổ trưởng tổ chuyên viên quân sự trong đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa từng kể, những ngày ấy, các bộ phận mỗi khi họp thường phải vào buồng mật cách âm do lực lượng công an thiết kế đặc biệt để chống nghe trộm. Ông nhớ như in những cuộc thảo luận chuẩn bị cho tiếp xúc cấp trưởng đoàn: "Trong căn phòng đặc biệt, bộ phận tham mưu, tổ phương án và cả trưởng đoàn làm việc không kể ngày đêm, mọi phương án được cân nhắc tỉ mỉ đến từng chữ. Suốt 5 tháng đàm phán hai bên, trong các bài phát biểu vào cuộc họp mỗi thứ năm hằng tuần, Bộ trưởng Xuân Thủy (Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa) nhắc đi nhắc lại một yêu cầu: Mỹ chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện ném bom miền Bắc Việt Nam, nhưng đối phương không chịu. Báo chí phương Tây gọi đây là cuộc nói chuyện giữa những người điếc”.
Quanh hội nghị, công tác tuyên truyền đối ngoại cũng được xác định là một mặt trận. Trung ương đã tuyển chọn những nhà báo giỏi ngoại ngữ, thành thạo nghiệp vụ như Nguyễn Thành Lê, Lý Văn Sáu, Hồng Hà, Hà Đăng, Lê Bình, Xuân Oanh... bên cạnh phái đoàn đàm phán. Báo chí cách mạng Việt Nam vạch trần tính phi nghĩa và tội ác xâm lược của Mỹ, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, góp phần tạo làn sóng phản đối chiến tranh ngày càng mạnh mẽ trên toàn thế giới. Trong cuộc trò chuyện mới đây với chúng tôi, nhà báo Hà Đăng không khỏi bồi hồi nhớ về những ngày tháng hoạt động sôi nổi ấy. Ông cho biết, đầu tháng 11-1968, đang là phóng viên Báo Nhân Dân, ông nhận nhiệm vụ sang Paris làm phụ tá cho bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngoài dự thảo các bài phát biểu cho Trưởng đoàn, ông còn viết bài tuyên truyền trên các báo nước ngoài và gửi về trong nước, đồng thời đóng vai trò “phát ngôn viên” của Trưởng đoàn khi cần thiết.
Đến tận bây giờ, khi kể lại cuộc tranh luận nảy lửa với các nhà báo quốc tế trong chương trình truyền hình có chủ đề “Le Vietnam” thực hiện trực tiếp tại khách sạn George V (Paris) cũng như nhiều cuộc trả lời phỏng vấn báo chí khác của bà Nguyễn Thị Bình, ông vẫn không giấu nổi sự khâm phục và tự hào. Nhà báo Hà Đăng kể: “Các câu hỏi được ra đặt liên tục. Đôi lúc có người cố ý cài những câu hỏi hóc búa để "thử" trí tuệ, bản lĩnh của đồng chí trưởng đoàn ta. "Khiêu vũ giữa bầy sói" với thái độ điềm tĩnh, nụ cười và ánh mắt cương nghị luôn thường trực, chị Bình ứng phó linh hoạt, lập luận sắc sảo mà không cần đến sự hỗ trợ của các trợ lý. Trả lời câu hỏi: "Tại sao hai phía Việt Nam không đàm phán với nhau?", chị đáp lại đanh thép: “Chính quyền Thiệu, Kỳ, Khiêm không phải chính quyền của người Việt Nam mà là chính quyền do người Mỹ lập ra"; “Có phải là đảng viên cộng sản không?”, chị mỉm cười: “Tôi là người yêu nước, đảng tôi là đảng yêu nước”; “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”, chị trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Nhà báo lại hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?”, chị liền đáp lại: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi”...
Giờ đây, khi đã ở tuổi gần bách niên, nữ chính khách từng được báo chí phương Tây tôn vinh là “bà hoàng Việt Cộng”, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vẫn minh mẫn. Bà cho biết: “Họ có quyền hỏi, còn quyền trả lời thuộc về chúng ta. Điều quan trọng là, nếu đã trả lời thì phải khiến họ tâm phục khẩu phục... Tôi cho rằng, tất cả các thành viên tham gia đoàn đàm phán ta đã làm rất tốt... Khi chính thức đặt bút ký vào bản Hiệp định chiến thắng, tôi vô cùng xúc động. Trên mặt trận ngoại giao, được thay mặt nhân dân, thay mặt các chiến sĩ cách mạng đấu tranh trực diện với kẻ thù xâm lược là điều vinh dự rất lớn!”.