Từ giống lúa chất lượng cao đến bài toán nâng cao giá trị hạt gạo ở Hải An

Với diện tích gieo cấy lúa hơn 1.200 ha mỗi vụ, xã Hải An có nhiều điều kiện để phát triển sản xuất lúa hàng hóa. Việc đưa giống lúa chất lượng cao Ngọc Nương 9 vào trình diễn, bước đầu cho kết quả tích cực về năng suất và hiệu quả kinh tế, mở ra hướng lựa chọn giống mới phù hợp với điều kiện canh tác địa phương. Song, để hạt gạo thực sự gia tăng giá trị, Hải An cần giải bài toán từ nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức sản xuất tập trung đến liên kết chế biến, tiêu thụ, tạo đầu ra ổn định và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa.

Người dân thôn An Nghiệp, xã Hải An, quan sát thành phẩm lúa Ngọc Nuơng 9 trên đồng ruộng, đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của giống lúa.

Người dân thôn An Nghiệp, xã Hải An, quan sát thành phẩm lúa Ngọc Nuơng 9 trên đồng ruộng, đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của giống lúa.

Ngọc Nương 9 - triển vọng từ mô hình trình diễn trên đồng ruộng

Trong vụ Mùa 2026, xã Hải An triển khai mô hình trình diễn giống lúa thuần chất lượng cao Ngọc Nương 9 tại thôn An Nghiệp. Mô hình do Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công phối hợp với Công ty CP Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (VinaSeed), Công ty CP VBM Group và Công ty TNHH Syngenta Việt Nam thực hiện. Giống lúa ST25 được chọn làm đối chứng để đánh giá khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng gạo của Ngọc Nương 9 trong điều kiện canh tác tại địa phương.

Đại diện chính quyền xã Hải An thăm đồng, kiểm tra tình hình sinh trưởng và sâu bệnh trên diện tích lúa trình diễn giống Ngọc Nương 9 tại thôn An Nghiệp.

Đại diện chính quyền xã Hải An thăm đồng, kiểm tra tình hình sinh trưởng và sâu bệnh trên diện tích lúa trình diễn giống Ngọc Nương 9 tại thôn An Nghiệp.

Đồng chí Trần Quốc Đông, Bí thư Chi bộ thôn An Nghiệp, xã Hải An, cho biết: Mô hình giống lúa Ngọc Nương 9 được triển khai trên diện tích 2,5 ha với 10 hộ tham gia. Thôn lựa chọn khu vực có diện tích canh tác tập trung, hệ thống tưới tiêu và giao thông nội đồng thuận lợi, tạo điều kiện cho việc chăm sóc, theo dõi và đánh giá giống lúa. Trong quá trình thực hiện, các hộ áp dụng phương thức gieo mạ nền, cấy máy, sử dụng phân bón hữu cơ VBM 3 trong 1 và thuốc bảo vệ thực vật theo chương trình của mô hình.

Việc ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất, kết hợp theo dõi sinh trưởng và tình hình sâu bệnh giúp người dân tiếp cận quy trình canh tác mới. Qua đánh giá bước đầu, cây lúa sinh trưởng tương đối đồng đều, các đối tượng sâu bệnh trên ruộng mô hình nhìn chung nhẹ hơn ruộng đối chứng. Đây là cơ sở để người dân tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả của giống lúa, từ đó có thêm căn cứ lựa chọn giống phù hợp cho sản xuất tại địa phương.

Theo báo cáo đánh giá mô hình, Ngọc Nương 9 có thời gian sinh trưởng 113 ngày, tương đương giống ST25, phù hợp với lịch thời vụ sản xuất vụ Mùa tại Hải An. Cây lúa cao trung bình 110 - 115 cm, thân cứng, bản lá gọn, đứng lá; bông dài khoảng 25 cm, số hạt chắc trung bình đạt 145 hạt/bông. Đây là những đặc điểm được ghi nhận trong quá trình theo dõi sinh trưởng, phát triển của giống lúa này trên đồng ruộng.

Một điểm đáng chú ý là khả năng chống chịu sâu bệnh của Ngọc Nương 9 trong mô hình. Theo đánh giá của đơn vị triển khai, các đối tượng dịch hại xuất hiện trên ruộng mô hình nhìn chung nhẹ hơn so với ruộng đối chứng, đặc biệt là rầy nâu và bệnh bạc lá vào cuối vụ. Kết quả này bước đầu cho thấy triển vọng của giống trong điều kiện sản xuất tại địa phương, dù cần tiếp tục theo dõi qua các vụ để đánh giá tính ổn định.

Về năng suất, số liệu thu hoạch ước tính cho thấy Ngọc Nương 9 đạt 54,15 tạ/ha, cao hơn mức 50,96 tạ/ha của giống ST25 đối chứng, tương đương mức tăng khoảng 6,3%. Chất lượng gạo cũng được đánh giá tích cực với hạt gạo trắng trong, không bạc bụng; cơm dẻo, mềm dai và có mùi thơm.

Theo bảng tính hiệu quả kinh tế của mô hình, tổng chi phí sản xuất hai giống được xác định ở mức 1,3 triệu đồng/sào. Với giá bán giả định cùng ở mức 9.500 đồng/kg, tổng thu từ Ngọc Nương 9 ước đạt 1.852.500 đồng/sào, cao hơn 104.500 đồng/sào so với ST25. Quy đổi theo diện tích một hec-ta, mức chênh lệch hiệu quả kinh tế khoảng 2,895 triệu đồng.

Kết quá đánh giá bước đầu cho thấy giống lúa Ngọc Nương 9 có triển vọng về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Kết quá đánh giá bước đầu cho thấy giống lúa Ngọc Nương 9 có triển vọng về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Bà Trần Thị Loan, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công xã Hải An cho biết: Những kết quả bước đầu cho thấy giống lúa Ngọc Nương 9 có triển vọng về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế khi đưa vào sản xuất tại Hải An. Tuy nhiên, đây mới là kết quả của mô hình trình diễn trong một vụ sản xuất, với quy mô 2,5 ha. Việc tiếp tục đánh giá giống trên các chân đất khác nhau, qua nhiều vụ và trong những điều kiện thời tiết khác nhau sẽ là cơ sở quan trọng để xác định khả năng thích ứng, tính ổn định về năng suất và hiệu quả thực tế trước khi mở rộng diện tích.

Từ mô hình này, vấn đề đặt ra không chỉ là lựa chọn được giống lúa có năng suất và chất lượng tốt, mà còn là cách tổ chức sản xuất để phát huy những ưu điểm đó. Khi giống mới được đưa vào vùng sản xuất tập trung, gắn với quy trình canh tác phù hợp, kiểm soát chất lượng và liên kết tiêu thụ, lợi thế từ đồng ruộng mới có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế bền vững cho hạt gạo và thu nhập của người trồng lúa. Theo kế hoạch sản xuất vụ Xuân 2027, xã Hải An tiếp tục định hướng mở rộng trình diễn các giống lúa triển vọng, trong đó có Ngọc Nương 9.

Chuyển dịch từ sản xuất lúa đại trà sang nâng cao chất lượng, giá trị hạt gạo

Với diện tích gieo cấy 1.202 ha, năng suất vụ Xuân 2026 đạt 75,5 tạ/ha, sản lượng 9.075 tấn, Hải An có nền tảng sản xuất lúa tương đối ổn định. Đáng chú ý, cơ cấu giống đang chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Lúa thuần chiếm 95% diện tích, chủ yếu là các giống chất lượng cao như Bắc thơm số 7, ST24, ST25, Dự hương, Đài thơm 8, Nếp 97. Theo báo cáo của UBND xã, tỷ lệ giống lúa chất lượng cao trong cơ cấu sản xuất đã đạt trên 90%. Đây là cơ sở để địa phương từng bước chuyển từ mục tiêu bảo đảm năng suất, sản lượng sang chú trọng hơn đến chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế.

Cùng với thay đổi cơ cấu giống, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và cơ giới hóa đang được xã Hải An tập trung đẩy mạnh. Toàn xã hiện có 23 máy cấy - mạ khay, diện tích cấy bằng máy khoảng 180 ha. Các khâu làm đất, gieo cấy, phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy bay không người lái, thu hoạch và phơi sấy từng bước được cơ giới hóa.

Phòng Kinh tế, Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công xã Hải An phối hợp tổ chức triển khai mô hình trình diễn phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy bay không người lái.

Phòng Kinh tế, Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công xã Hải An phối hợp tổ chức triển khai mô hình trình diễn phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy bay không người lái.

Dù vậy, thời gian qua, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Hải An vẫn còn tồn tại một số tồn tại: các mô hình sản xuất an toàn, VietGAP, hữu cơ và hướng hữu cơ gắn với chế biến, liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế. Một số hợp tác xã chưa đáp ứng tốt nhu cầu dịch vụ, nhất là cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Trong khi đó, giá phân bón, giống, thuốc bảo vệ thực vật duy trì ở mức cao, còn thị trường và giá nông sản thiếu ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và lợi nhuận của người trồng lúa.

Những hạn chế này cho thấy khoảng cách giữa sản xuất được lúa chất lượng cao và tạo ra sản phẩm gạo có giá trị hàng hóa vẫn cần được giải quyết. Nếu thiếu vùng nguyên liệu tập trung, quy trình canh tác đồng bộ và sự kết nối giữa các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ, lợi thế của giống lúa mới khó phát huy đầy đủ.

Vì vậy, việc nâng cao vai trò của hợp tác xã, thu hút doanh nghiệp tham gia và xây dựng mối liên kết ổn định với nông dân là yêu cầu quan trọng. Cùng với đó, sản phẩm cần được kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và từng bước xây dựng nhãn hiệu phù hợp với thị trường. Đẩy mạnh khuyến khích tích tụ ruộng đất, hình thành cánh đồng lớn, phát triển sản xuất hàng hóa chất lượng cao và mở rộng liên kết chuỗi.

Ứng dụng thiết bị bay không người lái trong phun thuốc bảo vệ thực vật, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy cơ giới hóa đồng ruộng tại xã Hải An.

Ứng dụng thiết bị bay không người lái trong phun thuốc bảo vệ thực vật, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy cơ giới hóa đồng ruộng tại xã Hải An.

Trong vụ Xuân 2027, Hải An đặt mục tiêu gieo cấy 1.192 ha lúa, năng suất từ 70 tạ/ha trở lên; đồng thời tiếp tục chuyển dịch cơ cấu giống theo hướng chất lượng, giá trị gia tăng cao và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mục tiêu đặt ra bên cạnh duy trì sản lượng là nâng cao hiệu quả trên diện tích canh tác. Để hiện thực hóa định hướng này, bên cạnh chuyển giao kỹ thuật và mở rộng cơ giới hóa, địa phương cần từng bước khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, nâng cao năng lực hoạt động của hợp tác xã và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Đồng chí Nguyễn Trung Công, Phó Chủ tịch UBND xã Hải An, cho biết: Thời gian tới, xã tiếp tục chuyển dịch cơ cấu giống lúa theo hướng nâng cao chất lượng, đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từng bước giảm chi phí, nâng cao hiệu quả canh tác. Đối với giống lúa Ngọc Nương 9, địa phương sẽ tiếp tục theo dõi, đánh giá khả năng thích ứng, năng suất và hiệu quả kinh tế qua các vụ để có cơ sở xem xét mở rộng diện tích. Cùng với đó, xã chú trọng tích tụ, tập trung ruộng đất, nâng cao vai trò của hợp tác xã, tăng cường liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản. Qua đó, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chất lượng cao, nâng giá trị hạt gạo và cải thiện thu nhập cho người trồng lúa.

UBND xã Hải An đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển cơ giới hóa nông nghiệp đến năm 2030. Theo đó, xã Hải An phấn đấu tỷ lệ cơ giới hóa trong trồng trọt đạt 95%, trong chăn nuôi đạt trên 90% và trong nuôi trồng thủy sản tại các trang trại, mô hình nuôi tập trung đạt trên 90%. Địa phương cũng đặt mục tiêu giảm tổn thất sau thu hoạch đối với các sản phẩm nông sản chủ lực từ 0,5-1% mỗi năm. Các chỉ tiêu này gắn với định hướng cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến; khuyến khích mở rộng mạ khay, cấy máy, ứng dụng thiết bị bay không người lái và đầu tư hệ thống sấy, kho bảo quản. Đối với cây lúa, đây là giải pháp góp phần giảm chi phí, nâng cao chất lượng nông sản, tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa tập trung và gia tăng giá trị hạt gạo.

Có thể thấy, để nâng cao giá trị hạt gạo, Hải An cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng tổ chức sản xuất tập trung, kiểm soát chất lượng và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Đây là điều kiện quan trọng để phát huy lợi thế của giống lúa chất lượng cao, ổn định đầu ra và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa.

Khánh Chi - Viết Dư

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/tu-giong-lua-chat-luong-cao-den-bai-toan-nang-cao-gia-tri-hat-gao-o-hai-an-261025105424505.html