Tự hào 50 năm Thành phố mang tên Bác - Kỳ 1: Nỗ lực kiến tạo những không gian sống an toàn, hiện đại

Nửa thế kỷ nhìn lại, TP.HCM không chỉ lớn lên về diện tích hay dân số, mà quan trọng hơn, đã thay đổi sâu sắc về chất lượng sống. Từ những khu vực ven đô lụp xụp, từng là điểm nóng về an ninh trật tự, TP.HCM hôm nay đang định hình một không gian sống an toàn, năng động và hiện đại.

Thành phố Sài Gòn xưa do người Việt mở mang từ thế kỷ 17 khởi nguồn từ Vàm Bến Nghé. Đến cuối thế kỷ 20, TP.HCM có duy nhất một trung tâm tập trung ở khu vực quận 1, quận 3, quận 4 (cũ), chợ Lớn và quận 5, quận 6 (cũ).

Trong nhiều thập niên, cấu trúc đô thị mang tính “lõi nén” rõ rệt: Các hoạt động kinh tế, hành chính, thương mại tập trung dày đặc ở trung tâm, trong khi vùng ven đô vẫn giữ dáng dấp nông thôn hoặc phát triển tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ.

Theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến (Hội quy hoạch phát triển đô thị TP.HCM) từ cuối thế kỷ 19 sang đến năm 1945, thành phố Sài Gòn xưa được quy hoạch mang diện mạo cảng thị kiểu châu Âu với cơ sở hạ tầng tương đối đầy đủ, thiết kế bài bản, mật độ xây dựng hợp lý, nhất là nhiều không gian xanh.

Tuy nhiên, những biến động từ chiến tranh cùng các làn sóng di dân mạnh mẽ của các thời kỳ sau đấy đã làm thay đổi cấu trúc này. Trong khoảng 1965-1975, dân chạy loạn từ các nơi kéo về lập ra các xóm nhà tạm bợ ven kênh rạch. Ngay cả trong trung tâm, phía sau các nhà cửa nguy nga ở mặt tiền là các xóm lao động lụp xụp. Trong thành phố xuất hiện những “vùng lõm” nhếch nhác và thiếu thốn tiện nghi. Sinh hoạt tại các khu vực trên phức tạp, an ninh trật tự khó duy trì.

Ông Tiến nhận xét trong suốt hai thập niên đầu sau năm 1975, TP.HCM gần như “giữ nguyên hình hài cũ”, không riêng TP.HCM mà nhiều đô thị khác đều phát triển chậm. Nhiều đô thị phải tự cung tự cấp, thiếu phát triển liên kết vùng nên chưa tạo ra những thay đổi mang tính bước ngoặt về cơ sở hạ tầng và đời sống so với trước đấy.

Phải đến thập niên 1990, khi công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ, kinh tế thị trường và đầu tư của tư nhân trong nước và ngoài nước quay trở lại thì thành phố mới bắt đầu bước vào giai đoạn chuyển mình tái thiết vũ bão. Nhiều khu công nghiệp, đường sá và khu dân cư mới hình thành. Các khu đất trung tâm trở thành "đất vàng", gia tăng giá trị thương mại lớn lao.

Hơn thế nữa, nhiều nhà cao tầng xuất hiện, sử dụng công nghệ, vật liệu và kiểu dáng mới đã khiến quang cảnh đô thị cũ thay đổi. Tất cả các yếu tố kể trên đã hình thành nên một diện mạo Sài Gòn mới mẽ, tân kỳ chưa từng có. Tuy nhiên, thay đổi diện mạo lớn nhất không chỉ nằm ở chiều cao công trình, mà quan trọng hơn cả là thành phố đã thay đổi không gian và cương giới.

Từ đầu thập niên 2000, thành phố tăng tốc đô thị hóa rõ rệt về phía tây nam (Phú Mỹ Hưng, Bình Chánh), về phía biển (Nhà Bè, Cần Giờ) và phía đông bắc (Thủ Đức). Mới nhất từ 1-7-2025, TP.HCM hợp nhất với Bình Dương đồng nghĩa mở rộng về phía tây bắc và với Bà Rịa - Vũng Tàu là nảy nở ra biển (có hơn 300 km bờ biển và hòn ngọc Côn Đảo).

Theo ông Phúc Tiến, các nhà quy hoạch trước 1975 đã nhìn thấy hướng phát triển thành phố về phía đông bắc là cần thiết và phải ưu tiên.

Đây là vùng đất cao kết nối với sông Đồng Nai, sân bay và thành phố Biên Hòa (cũ), đặc biệt là Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt ra miền Trung, miền Bắc. Định hướng này đã thực hiện bước đầu từ cuối thập niên 1950 với việc xây dựng cầu Sài Gòn và xa lộ nối với các nhà máy ở Thủ Đức, thành phố Biên Hòa (cũ), khu công nghiệp Biên Hòa. Sang đầu thập niên 1960, Tân Cảng hiện đại ra đời ngay dưới chân cầu Sài Gòn, chủ yếu phục vụ nhu cầu quân sự, góp thêm năng lực cho hệ thống cảng Sài Gòn.

Cầu Sài Gòn qua nhiều lần nâng cấp và đặc biệt với sự xuất hiện của cầu Sài Gòn 2, không chỉ giải quyết bài toán giao thông mà còn đóng vai trò như một “đường dẫn” cho sự mở rộng đô thị dọc theo xa lộ và bán đảo Thủ Thiêm.

Từ một cửa ngõ còn hoang vắng, dân cư thưa thớt khu vực phía đông bắc sang cuối thế kỷ 20, đã có thêm nhiều nhà máy, khu công nghệ cao, khu đại học và khu dân cư mới. Do đó vùng đông bắc Sài Gòn dần dần trở thành trục phát triển mới năng động, kéo theo sự dịch chuyển dân cư và các dòng vốn đầu tư lớn lao.

“Bước sang thế kỷ 21, sự chuyển dịch về hướng đông bắc diễn ra với tốc độ "tên lửa". Qua đấy, việc hoàn thành tuyến metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) và sắp đến sẽ nối đến Bình Dương, cũng như việc ra đời sân bay Long Thành (Đồng Nai) đã và đang là hai yếu tố góp phần thúc đẩy hơn nữa việc phát triển vùng đông bắc” – ông Trần Hữu Phúc Tiến nhận định.

Theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, khi đô thị bắt đầu mở rộng, những nhà máy và bến cảng trong các khu trung tâm không còn phù hợp. Việc di dời chúng không chỉ giải quyết bài toán giao thông và vấn đề môi trường, mà là điều kiện để chỉnh trang, tái cấu trúc không gian đô thị.

Từ năm 2010, cảng Sài Gòn ở khu trung tâm (dọc theo vùng Khánh Hội, thuộc quận 4 cũ) đã bắt đầu di dời ra Hiệp Phước (Nhà Bè cũ). Vừa qua bến tàu Khánh Hội chủ yếu chỉ còn là bến tàu du lịch quốc tế. Năm 2014, Tân Cảng tiến hành di dời ra Cát Lái, Cái Mép (Bà Rịa - Vũng Tàu) và một số nơi khác. Cùng với Tân Cảng, Nhà máy Ba Son, cũng được di chuyển ra sát biển, nhường chỗ cho khu dân cư cao cấp và cao ốc thương mại.

Mới nhất từ tháng 4-2026, chính quyền thành phố đã quyết định chuyển toàn bộ không gian bến cảng Nhà Rồng - Khánh Hội với 39,5 ha thành khu công viên văn hóa - lịch sử thay vì chỉ làm khu dân cư cao cấp như dự định trước đây nhiều năm. Trong đấy giai đoạn đầu bao gồm 9 ha làm công viên cảnh quan, quảng trường trung tâm và một số cơ sở kỹ thuật hạ tầng. Đồng thời thành phố sẽ mở rộng đường Nguyễn Tất Thành để tăng tốc giao thông giữa trung tâm với Nhà Bè và Cần Giờ, tạo thêm cơ hội phát triển kinh tế cho các khu vực lân cận.

Nhìn lại việc thay đổi kiến trúc và cảnh quan Vàm Bến Nghé (bờ sông Sài Gòn tính từ cầu Sài Gòn đến cảng Nhà Rồng - Khánh Hội), dễ dàng nhận ra thành phố đang thay đổi diện mạo đô thị ở cả hai bờ (bờ quận 1, quận 4 cũ và bờ Thủ Thiêm). Một cánh cung vàng lộng lẫy đã lộ diện, tiếp nối hình ảnh một đại cảng thị phồn vinh từ nhiều thế kỷ trước.

“Tuy vậy, trong sự phát triển nhanh chóng ấy, chúng ta cần lưu ý bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử dọc bờ sông bằng nhiều hình thức. Đó cũng là cách thực hiện kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa - hai ngành nghề mới mẻ mà thành phố không thể bỏ quên” - ông Tiến kỳ vọng.

Giữa những chuyển động lớn của đô thị, phố đi bộ Bùi Viện là một lát cắt tiêu biểu, phản ánh rõ nét hành trình từ “lụp xụp, bất an” đến năng động và hội nhập. Trước năm 1975, khu vực này chỉ là những con hẻm nhỏ, nơi sinh sống của người lao động nghèo. Nhà cửa thấp bé, nhịp sống chậm và thiếu cơ hội phát triển.

Trong ký ức của những người đã đi qua gần hết một đời người tại "ngã tư quốc tế", phố Bùi Viện không chỉ là ánh đèn màu hay tiếng nhạc xập xình, nó còn là những vết chai sạn của một thời cầm cự giữa cái nghèo.

Bên chén trà nhỏ, cụ bà Trần Thị Loan năm nay đã bước sang tuổi 89, khẽ cười hiền rồi bồi hồi tâm sự về một thời gian khó. Mấy chục năm trước, bà cùng chồng rời Hà Đông vào TP.HCM lập nghiệp khi khái niệm “phố Tây” còn chưa hình thành. Với bà Loan, sự thay đổi của con phố này gắn liền với nửa thế kỷ thăng trầm của gia đình bà tại đây.

"Hồi mới vào cực lắm, tôi cứ phải đi làm từ 4 giờ sáng, bươn chải khắp các ngõ ngách khi phố phường còn chưa thức giấc. Khi đó ông nhà tôi còn sống, hai vợ chồng cùng nhau bươn chải lo cho các con. Đến nay, các con đều đã lớn tuổi, người nhỏ nhất cũng đã ngoài 50, người lớn nhất gần 70 tuổi. Ngày xưa ở đây buồn lắm, nhà cửa thấp bé, nhếch nhác. Từ khi thành phố đi bộ, không khí lúc nào cũng vui vẻ, nhất là về đêm" - bà Loan kể.

Dù phố thị giờ đây náo nhiệt hơn xưa, nhưng với người đã đi qua gần hết thế kỷ như bà, sự đổi thay này là minh chứng cho sự phát triển của thành phố, là thành quả từ nỗ lực của các cấp chính quyền và người dân.

Khác với bà Trần Thị Loan, bà Nguyễn Thị Hồng Loan sinh ra và lớn lên ngay tại thành phố này. Trong tâm khảm người phụ nữ này vẫn vẹn nguyên ký ức về một Bùi Viện từ thuở còn gian khó cho đến ngày trở thành điểm đến hàng đầu của du khách.

Ngược dòng thời gian, bà Hồng Loan nhớ về một Bùi Viện rất khác với những tiệm may lớn, quán xá thưa thớt và nhịp sống bình dị của dân công chức, người buôn bán nhỏ. “Tôi ở đây từ bé, từ lúc còn chạy tắm mưa, chơi nhảy cò cò với đám bạn nên hiểu nơi này lắm. Hồi xưa hẻm yên ắng, không ồn ào như bây giờ” - bà Hồng Loan chia sẻ.

Gần 30 năm bám trụ với tiệm tạp hóa nhỏ và công việc giữ xe, bà đã chứng kiến hành trình dài khi những tiệm may dần nhường chỗ cho khách sạn và các quán bar náo nhiệt. Cũng theo bà Hồng Loan, sự thay đổi rõ nét bắt đầu sau công cuộc đổi mới năm 1986. Đất nước mở cửa, dân Tây “ba lô” đổ về Bùi Viện tìm nơi lưu trú. Từ đó đến nay, nhiều hộ dân vay vốn trùng tu nhà cửa, chuyển sang kinh doanh quán bar, hàng ăn và lưu trú, giúp đời sống cải thiện rõ từng ngày.

Đặc biệt, tối 20-8-2017, phố đi bộ Bùi Viện chính thức khai trương trong sự kỳ vọng lớn của người dân và du khách. Đây là con phố đi bộ thứ hai của TP.HCM sau phố đi bộ Nguyễn Huệ. Sự kiện này không chỉ chấm dứt thời kỳ hoạt động tự phát mà còn thiết lập một không gian du lịch văn minh, an toàn. Với việc chỉnh trang đồng bộ hạ tầng và tổ chức các hoạt động nghệ thuật đường phố, Bùi Viện đã thực sự "thay da đổi thịt", trở thành biểu tượng kinh tế đêm sôi động nhất của thành phố.

Có mặt tại phố Bùi Viện sau 10 ngày khám phá Việt Nam, anh Danielle (du khách Đức) chọn TP.HCM là điểm dừng chân cho chuyến hành trình của mình. Chỉ mới có mặt tại đây vài giờ, anh đã bị chinh phục bởi sự náo nhiệt của tuyến phố này.

"Hôm nay tôi cảm thấy rất tuyệt vời. Chúng tôi đang ở trên một con phố sôi động với rất nhiều ánh đèn, mang đậm cảm giác châu Á. Theo anh Danielle, nếu Hà Nội mang đậm dấu ấn lịch sử, Đà Nẵng yên bình thì Bùi Viện lại cực kỳ đông đúc và hiện đại. Năng lượng từ dòng xe cộ nhộn nhịp cùng sự thân thiện của người dân là trải nghiệm anh không thể quên” - anh Danielle chia sẻ.

Cùng chung cảm xúc, chị Ula (du khách Đức) không khỏi ngỡ ngàng trong lần đầu đặt chân đến đây. "Ở Đức, tôi không quen với không khí này nhưng thực sự thích nó. Mọi thứ đều rực rỡ sắc màu, con người nơi đây rất tử tế" - chị Ula hồ hởi nói.

Song hành với việc mở rộng không gian là quá trình “làm đầy” chất lượng sống, đặc biệt là nỗ lực xóa bỏ các “vùng lõm” đô thị từng tồn tại dai dẳng trong nhiều năm được chính quyền TP.HCM quan tâm hàng đầu.

Trước đây, không ít khu vực cửa ngõ TP.HCM từng gắn với hình ảnh thiếu an ninh trật tự. Di dân tự phát, thiếu việc làm, hạ tầng yếu kém đã tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội phát sinh. Những vụ móc túi, dàn cảnh trộm cắp tại các điểm đông người từng khiến người dân và du khách không khỏi e ngại.

Nhưng theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến, sự thay đổi không thể chỉ đến từ các biện pháp quản lý hành chính. Cốt lõi của vấn đề vẫn là kinh tế và cơ hội sống. “Khi người dân có việc làm ổn định, thu nhập được cải thiện, đời sống được nâng lên, thanh thiếu niên được đến trường đầy đủ thì các tệ nạn xã hội sẽ dần bị đẩy lùi. Hạ tầng là điều kiện cần, nhưng không phải là yếu tố duy nhất quyết định” - ông nói.

Thực tế cho thấy, các đòn bẩy hạ tầng như hệ thống xa lộ trước đây hay metro hiện nay đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt. Không chỉ giúp kết nối không gian, chúng còn kéo theo dòng vốn đầu tư, mở rộng cơ hội việc làm và hình thành các cộng đồng dân cư mới với mức sống cao hơn.

Từng quen với tiếng xình xịch của tàu hỏa truyền thống, ông Phạm Vinh Quang (61 tuổi, ngụ phường Hòa Hưng, cựu trưởng tàu an ninh ga Sài Gòn) đánh giá cao sự hiện đại của tàu metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên). Theo ông, tàu vận hành rất êm ái, hệ thống phát thanh thông báo rõ ràng tại mỗi ga giúp hành khách dễ dàng theo dõi lộ trình.

"Việc mua vé hiện nay rất nhanh chóng. Hành khách có thể thanh toán qua ứng dụng điện thoại hoặc sử dụng căn cước công dân cực kỳ tiện lợi" - ông Quang chia sẻ.

Quan sát sự thay đổi của TP.HCM, ông Quang nhận định thành phố đang có những bước phát triển vượt bậc so với các nước lân cận. Đời sống người dân được nâng cao, thu nhập cải thiện và cơ hội việc làm mở rộng cho cả lao động từ các tỉnh thành khác. Sự xuất hiện của các loại hình phương tiện mới như xe điện cũng cho thấy tư duy đổi mới về kinh tế và môi trường.

Cựu trưởng tàu an ninh bày tỏ kỳ vọng vào tương lai của mạng lưới giao thông công cộng: "Tôi mong các tuyến metro kết nối đi Củ Chi hay Long Thành sớm được triển khai. Khi mạng lưới hoàn thiện, người dân sẽ đi lại thuận tiện hơn, góp phần thúc đẩy kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ hơn nữa" - ông Quang kỳ vọng.

Sự thay đổi này cũng nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt từ thế hệ trẻ. Bạn Trần Gia Hân (ngụ phường Chánh Hưng) chia sẻ thay vì chen chúc giữa dòng xe máy khói bụi, metro là lựa chọn văn minh.

“Điểm cộng lớn nhất của metro là sự nhanh chóng, không gian mát mẻ và đặc biệt không bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn hay khói bụi như khi di chuyển bằng phương tiện cá nhân. Nếu ở khu vực trung tâm mà muốn di chuyển quảng đường xa thì đi tàu rất tiện. Như hôm nay, em chọn đi metro để ra ga cuối rồi bắt xe đi Biên Hòa, thời gian rút ngắn lại rất nhiều” - Gia Hân cho biết.

Trước đây, Gia Hân thường xuyên di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô. Tuy nhiên, tình trạng kẹt xe và ô nhiễm môi trường tại thành phố khiến việc đi lại trở nên mệt mỏi. Gia Hân tin rằng khi có metro, người dân sẽ dần thay đổi thói quen di chuyển để giảm bớt áp lực giao thông và ô nhiễm tiếng ồn.

"Em mong muốn trong tương lai thành phố sẽ có thêm nhiều tuyến metro kết nối xa hơn nữa, không chỉ dừng lại ở Suối Tiên mà có thể đi đến Vũng Tàu hoặc vào sâu các khu vực như Cần Giờ, Nhà Bè, để người dân đi lại thuận tiện nhất" - Gia Hân bày tỏ.

Những thay đổi trong hành vi di chuyển, nếu được duy trì sẽ góp phần giảm áp lực giao thông, cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng sống. Tuy nhiên, theo chuyên gia để xóa bỏ hoàn toàn các “vùng lõm”, TP.HCM cần một chiến lược đồng bộ hơn. "Hạ tầng phải đi cùng với giáo dục, y tế và văn hóa. Bởi lẽ, chỉ khi người dân có điều kiện phát triển toàn diện, đô thị mới thực sự trở thành một không gian an toàn và đáng sống" - nhà nghiên cứu Trần Hữu Phúc Tiến nhấn mạnh.

Thực hiện: TUỆ ANH - THUẬN VĂN - HOÀI TRỌNG

Thiết kế: KIM ANH

Nguồn PLO: https://plo.vn/video/tu-hao-50-nam-thanh-pho-mang-ten-bac-ky-1-no-luc-kien-tao-nhung-khong-gian-song-an-toan-hien-dai-post910066.html