Từ khát vọng đại dương đến tầm nhìn quốc gia biển mạnh
Bước vào kỷ nguyên kinh tế đại dương, không gian biển ngày càng trở thành nguồn lực chiến lược với sự hưng thịnh của mỗi quốc gia; với Việt Nam, khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh đang được đặt trong một tầm nhìn phát triển mới. Kinh nghiệm từ các cường quốc biển như Nhật Bản, Na Uy cho thấy, để biến tiềm năng đại dương thành động lực tăng trưởng cần bắt đầu từ năm trụ cột nền tảng.
Với đường bờ biển dài hơn 3.260km, vùng biển rộng hơn 1 triệu kilomet vuông cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có tiềm năng và lợi thế lớn để phát triển kinh tế biển. Biển đồng thời gắn với lịch sử dựng nước, giữ nước, bảo vệ chủ quyền và khát vọng phát triển của dân tộc.
Làm thế nào chuyển hóa những tiềm năng, lợi thế ấy thành nguồn lực thực sự cho phát triển đất nước. Tầm nhìn này được xác định tại Nghị quyết số: 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và tiếp tục cụ thể hóa bằng Nghị quyết số: 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20.

Đặc khu Phú Quốc (An Giang) đang chuyển mình mạnh mẽ, hướng tới trở thành trung tâm kinh tế biển tầm cỡ quốc gia và khu vực. Ảnh: Trương Phú Quốc
Nhìn từ kinh nghiệm của các quốc gia có thế mạnh về biển như Nhật Bản, Na Uy, quá trình biến lợi thế đại dương thành sức mạnh phát triển có thể được nhìn nhận qua năm trụ cột lớn.
Khởi nguồn từ tư duy chiến lược và thể chế kiến tạo
Một quốc gia biển mạnh trước hết phải mạnh trong tư duy lập pháp và tầm nhìn quy hoạch. Biển không thể được quản lý bằng tư duy khai thác ngắn hạn, manh mún, mà đòi hỏi một hệ sinh thái pháp lý đồng bộ, minh bạch và có tầm nhìn dài hạn.
Na Uy, quốc gia Bắc Âu đã biến đại dương thành nguồn thu nhập bền vững nhờ hệ thống quản lý không gian biển chặt chẽ và các chính sách khắt khe về bảo vệ môi trường từ sớm; hay Nhật Bản, một quốc gia quần đảo với nền văn hóa hướng biển sâu sắc, luôn duy trì tầm nhìn chiến lược dài hạn trong việc hoạch định chính sách đại dương gắn liền với an ninh tài nguyên và phát triển công nghệ cao.
Quán triệt tinh thần đó, Nghị quyết 20 và Nghị quyết 218 nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo hành lang pháp lý vững chắc để mở rộng không gian phát triển, chuyển mạnh từ tư duy khai thác sang quản trị biển hiện đại. Sức mạnh thể chế chính là chiếc "neo" vững chắc để tháo gỡ mọi điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và đưa kinh tế biển bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Sức mạnh từ kinh tế biển xanh và đột phá công nghệ
Sức mạnh vật chất của một quốc gia biển nằm ở năng lực làm chủ kinh tế biển hiện đại. Thế giới đang chứng kiến cuộc chuyển dịch mạnh mẽ sang kinh tế biển xanh - nơi Na Uy thành công rực rỡ với thủy sản công nghệ cao, đóng tàu tiên tiến và năng lượng gió ngoài khơi, còn Nhật Bản đi đầu trong nghiên cứu khoa học đại dương, tự động hóa cảng biển và khai thác biển sâu gắn với bảo tồn sinh thái.
Tại Việt Nam, với mục tiêu các tỉnh thành ven biển đóng góp phần lớn vào GDP cả nước, các định hướng lớn trong chương trình hành động của Chính phủ đang tập trung chuyển dịch từ kinh tế biển truyền thống sang kinh tế tuần hoàn, các ngành giá trị gia tăng cao: logistics thông minh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp đóng tàu tiên tiến và nuôi trồng hải sản xa bờ có trách nhiệm. Minh chứng từ thực tiễn với sản lượng hàng qua hệ thống cảng biển năm 2025 đạt mức khoảng 956 triệu tấn và tổng trọng tải đội tàu đạt khoảng 12 triệu DWT cho thấy nền tảng sẵn có rất lớn, đòi hỏi khoa học - công nghệ phải thực sự đóng vai trò chìa khóa để vươn tầm quốc tế.

Diễu binh các lực lượng vũ trang trên biển chào mừng 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9. Ảnh: Quân chủng Hải quân/TTXVN
Sức mạnh bảo vệ từ quốc phòng - an ninh và "thế trận lòng dân"
Biển mạnh phải là biển an toàn. Sự thịnh vượng kinh tế chỉ có thể đứng vững trên nền tảng của chủ quyền quốc gia được giữ gìn vững chắc trên toàn bộ vùng biển rộng lớn, bao gồm chủ quyền không thể chối cãi tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng môi trường hòa bình, ổn định trên biển.
Các quốc gia biển thành công luôn kết hợp chặt chẽ giữa tiềm lực quân sự hiện đại với sức mạnh kinh tế. Lực lượng thực thi pháp luật trên biển (Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư) được xây dựng tinh, gọn, mạnh để làm chỗ dựa cho ngư dân vươn khơi. Song, gốc rễ của sức mạnh bảo vệ biển đảo Việt Nam từ xưa đến nay vẫn bắt nguồn từ "thế trận lòng dân". Những ngư dân kiên cường bám biển không chỉ là chủ thể phát triển kinh tế, mà còn là những "cột mốc sống" khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên từng con sóng.
Sức mạnh mềm từ văn hóa biển và ngoại giao đa phương
Bên cạnh đó, một quốc gia biển mạnh không thể thiếu "sức mạnh mềm" - thứ định hình uy tín quốc gia trên trường quốc tế. Sức mạnh đó tỏa ra từ bản sắc văn hóa hướng biển, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái biển của toàn xã hội, cũng như năng lực tham gia định hình các luật chơi chung.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, việc kiên định thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tuân thủ luật pháp quốc tế - tiêu biểu là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, cùng với việc chủ động tham gia các khuôn khổ hợp tác khu vực và toàn cầu, sẽ giúp nâng tầm vị thế Việt Nam thành một đối tác có trách nhiệm, một điểm tựa tin cậy trong cộng đồng hàng hải quốc tế.
Yếu tố con người, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
Thực tiễn phát triển từ các cường quốc hàng hải như Nhật Bản hay Na Uy cho thấy, công nghệ tối tân hay tàu thuyền hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ, con người mới là cội nguồn của mọi sức mạnh. Để vận hành một nền kinh tế biển xanh, thông minh và hội nhập, không thể thiếu đội ngũ nhân lực có tư duy toàn cầu, tay nghề kỹ thuật cao và phẩm chất bản lĩnh.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kinh tế biển cần được nhìn nhận là quốc sách, là chiến lược dài hạn của quốc gia. Việt Nam cần nhanh chóng thiết lập một hệ thống giáo dục - đào tạo hàng hải đạt chuẩn quốc tế, gắn kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với các tập đoàn kinh tế biển lớn. Từ kỹ sư đóng tàu, chuyên gia năng lượng tái tạo, nhà quản trị chuỗi cung ứng logistics toàn cầu đến đội ngũ thuyền viên, sĩ quan hàng hải... tất cả đều phải được trang bị tri thức hiện đại và tư duy phát triển bền vững. Đầu tư cho con người chính là khoản đầu tư sinh lời lớn nhất và bền vững nhất để đưa Việt Nam thực sự cất cánh từ biển.
Xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển theo tinh thần Nghị quyết 20 và Nghị quyết 218 không chỉ là khát vọng mà là mệnh lệnh từ thực tiễn phát triển. Khi tư duy hướng biển, thể chế kiến tạo, kinh tế xanh, quốc phòng vững chãi, ngoại giao rộng mở được đặt trên nền tảng vững chắc của nguồn nhân lực con người, chúng ta hoàn toàn có đủ nội lực để biến tiềm năng đại dương thành nguồn lực phồn vinh, đưa đất nước vững bước vươn ra biển lớn trong kỷ nguyên mới.


