Từ những tia bức xạ đến động lực phát triển (Bài 2)

>>>Từ những tia bức xạ đến động lực phát triển (Bài 1)

BÀI 2: KHI TIA BỨC XẠ TRỞ THÀNH “VŨ KHÍ” CHỐNG UNG THƯ

Không chỉ giúp bác sĩ nhìn thấy những tổn thương trong cơ thể người bệnh, năng lượng nguyên tử đang ngày càng được ứng dụng sâu rộng trong điều trị bệnh ung thư.

Từ máy gia tốc tuyến tính, các kỹ thuật xạ trị hiện đại đến y học hạt nhân, bức xạ đang được sử dụng theo hướng cá thể hóa với mục tiêu chính xác hơn, hiệu quả hơn.

Bác sĩ, kỹ thuật viên Bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark theo dõi quá trình xạ trị cho bệnh nhân ung thư.

Bác sĩ, kỹ thuật viên Bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark theo dõi quá trình xạ trị cho bệnh nhân ung thư.

Ðưa tia bức xạ xử lý khối u

Ung thư không còn là câu chuyện của một phương pháp điều trị đơn lẻ. Tùy loại ung thư, vị trí, giai đoạn bệnh và thể trạng, người bệnh có thể được chỉ định phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hoặc kết hợp với thuốc nhắm trúng đích, liệu pháp miễn dịch, nội tiết...

Trong “bức tranh” điều trị đa mô thức ấy, xạ trị giữ vai trò quan trọng. Thay vì đưa dao vào cơ thể hoặc đưa thuốc đi khắp cơ thể, xạ trị sử dụng bức xạ năng lượng cao tác động vào tế bào ung thư nhằm kiểm soát hoặc tiêu diệt khối u.

Về nguyên lý, bức xạ có khả năng gây tổn thương DNA của tế bào. Khi mức độ tổn thương đủ lớn và tế bào không thể sửa chữa, tế bào ung thư mất khả năng phân chia hoặc chết đi. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của xạ trị không đơn giản là tiêu diệt khối u mà là đưa đủ liều bức xạ đến vùng cần điều trị, đồng thời giảm tối đa liều chiếu đến các cơ quan lành.

Tiến sĩ Dương Thanh Tài, phụ trách công tác lâm sàng tại Trung tâm Ung thư Abben, Bệnh viện Spencer (Mỹ), chuyên gia trong lĩnh vực vật lý y khoa, xạ trị cho biết: CT (chụp cắt lớp vi tính), MRI (chụp cộng hưởng từ), PET (chụp cắt lớp phát xạ positron) và các kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp xác định vùng điều trị chính xác hơn, từ đó điều khiển chùm tia từ nhiều hướng để “đánh trúng” khối u.

Bác sĩ chuyên khoa II Trần Trung Kiên, Trưởng khoa Ung bướu, Bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark cho biết: Bệnh viện đang sử dụng hệ thống gia tốc xạ trị tuyến tính để điều trị ung thư. Cùng với đó là những kỹ thuật xạ trị hiện đại như: Xạ trị điều biến thể tích, xạ trị điều biến liều, xạ trị định vị thân và xạ phẫu, giúp tập trung bức xạ vào tổn thương với độ chính xác cao hơn.

Theo bác sĩ Trần Trung Kiên, xạ trị có thể được sử dụng ở nhiều giai đoạn của bệnh ung thư. Ở giai đoạn sớm, xạ trị có thể hướng tới kiểm soát hoặc tiêu diệt khối u. Khi bệnh tiến triển tại chỗ, xạ trị có thể phối hợp với hóa chất hoặc các phương pháp khác. Ở giai đoạn muộn, xạ trị có vai trò giảm đau, giảm chèn ép, giảm các triệu chứng khó chịu và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Như vậy, xạ trị có thể được sử dụng ở khoảng 70-80% trong quá trình điều trị cho bệnh nhân ung thư.

“Cuộc chiến” chính xác ở cấp độ tế bào

Bệnh nhân N.T.T. (ở phường Phước Tân) được chẩn đoán mắc ung thư đại tràng và chỉ định xạ trị 28 tia. Sau 26 lần điều trị, bà T. cho biết: Quá trình xạ trị diễn ra tương đối nhẹ nhàng, không gây đau đớn như nhiều người vẫn lo ngại. Trong quá trình điều trị, bà chỉ gặp một số tác dụng phụ thoáng qua như: buồn nôn, chóng mặt, nhưng các triệu chứng này nhanh chóng giảm và hết sau vài ngày.

Bác sĩ Trần Trung Kiên cho biết thêm: Để bệnh nhân ung thư giảm nhanh các tác dụng phụ trong xạ trị, cả một ê-kíp phía sau gồm: bác sĩ, nhà vật lý y khoa, kỹ thuật viên và các nhân sự liên quan phải lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch rất chi tiết. Bác sĩ sẽ xác định loại ung thư, vị trí khối u, giai đoạn bệnh, vùng cần điều trị và tổng liều xạ trị. Nhà vật lý y khoa sử dụng hệ thống lập kế hoạch để tính toán, tối ưu phân bố liều, đánh giá liều đến các cơ quan lành và kiểm tra khả năng máy thực hiện đúng kế hoạch…

Tiến sĩ Dương Thanh Tài phân tích: Bài toán cốt lõi của xạ trị là bảo đảm khối u nhận được liều cần thiết, trong khi các mô lành xung quanh nhận liều thấp nhất có thể. Vì vậy, trước khi máy được đưa vào sử dụng, nhiều thông số phải được kiểm tra, hiệu chuẩn. Những kế hoạch điều trị phức tạp có thể được kiểm tra độc lập trước khi thực hiện. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi khối u nằm gần những cơ quan quan trọng. Càng xác định chính xác vị trí, hình dạng và phạm vi tổn thương, ê-kíp điều trị càng có cơ sở để tối ưu hóa kế hoạch, hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh mà vẫn bảo vệ được các mô lành.

Hướng tiếp cận của bức xạ trong điều trị ung thư gồm: Xạ trị ngoài (máy gia tốc tuyến tính đặt bên ngoài cơ thể tạo chùm tia năng lượng cao, hướng vào vùng khối u. Kỹ thuật hiện đại cho phép điều khiển chùm tia từ nhiều hướng và tối ưu phân bố liều); điều trị bằng dược chất phóng xạ (dược chất có gắn đồng vị phóng xạ được đưa vào cơ thể bằng đường uống hoặc đường tiêm. Dược chất có khả năng tập trung tại những cơ quan, mô có đặc điểm phù hợp để chẩn đoán hoặc điều trị); điều trị phóng xạ trúng đích (dược chất được thiết kế để nhận diện đặc điểm sinh học nhất định của tế bào ung thư, qua đó đưa bức xạ đến gần mục tiêu bên trong cơ thể).

Khi “thuốc phóng xạ” tìm đến khối u

Nếu xạ trị ngoài đưa chùm tia X từ bên ngoài cơ thể vào khối u thì y học hạt nhân sử dụng một cách tiếp cận khác. Đó là đưa dược chất có gắn đồng vị phóng xạ vào cơ thể. Các dược chất phóng xạ có thể được đưa vào cơ thể bằng đường uống hoặc đường tiêm. Chúng có khả năng tập trung ở những cơ quan, mô có đặc điểm phù hợp để phục vụ chẩn đoán hoặc điều trị.

Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II Kim Ngọc Si Ha, Trưởng khoa Ung bướu - Y học hạt nhân, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai cho biết: Bệnh viện đang điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa bằng I-131 (i-ốt phóng  xạ 131). Đây là phương pháp điều trị bằng y học hạt nhân, trong đó người bệnh được sử dụng iod phóng xạ I-131 để tiêu diệt các tế bào tuyến giáp còn sót lại hoặc tế bào ung thư tuyến giáp có khả năng bắt iod. Sau khi được đưa vào cơ thể, I-131 có tính chất tương tự iod thông thường nên được các tế bào tuyến giáp hấp thu. Tia beta phát ra từ I-131 tác động tại chỗ, phá hủy các tế bào tuyến giáp và tế bào ung thư.

Y học hạt nhân còn mở ra một hướng phát triển đáng chú ý khác là điều trị phóng xạ trúng đích. Theo Tiến sĩ Dương Thanh Tài, khác với xạ trị ngoài, liệu pháp phóng xạ trúng đích đưa dược chất có gắn đồng vị phóng xạ vào cơ thể. Dược chất được thiết kế để nhận diện một đặc điểm sinh học nhất định của tế bào ung thư, qua đó đóng vai trò như một “phương tiện vận chuyển”, đưa bức xạ đến gần mục tiêu bên trong cơ thể. Đây là bước phát triển quan trọng, bởi mục tiêu không chỉ đưa bức xạ đến khối u mà còn tìm cách đưa đúng loại bức xạ đến đúng mục tiêu sinh học.

Tiến sĩ Dương Thanh Tài cho biết thêm: Một hướng khác cũng đang được chú trọng trong điều trị ung thư là cá thể hóa liều điều trị. Cùng một loại ung thư nhưng mỗi người bệnh có thể có vị trí, kích thước khối u và tình trạng cơ quan lành khác nhau. Vì vậy, cùng một lượng dược chất đưa vào cơ thể không có nghĩa mọi bệnh nhân sẽ nhận cùng một liều bức xạ tại khối u hoặc các cơ quan lành.

Theo bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Văn Bình, Phó Giám đốc Sở Y tế, thành phố hiện có 2 bệnh viện có năng lực xạ trị, ứng dụng y học hạt nhân để điều trị ung thư là Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai và Bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark. Trong đó, Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai được khẳng định vị thế mũi nhọn hạt nhân tuyến tỉnh, là một trong số ít các bệnh viện  đa khoa tuyến tỉnh trong cả nước có 2 chuyên khoa chuyên biệt là Ung bướu và Ung bướu - Y học hạt nhân. Nhờ đó, nhiều bệnh nhân ung thư được điều trị ngay tại địa phương mà không phải đi xa.

Hạnh Dung

Bài 3: Phía sau những máy móc hiện đại là “bài toán” con người

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/xa-hoi/y-te/202609/tu-nhung-tia-buc-xa-den-dong-luc-phat-trien-bai-2-3f81145/