Từ Pác Bó đến Đất Mũi: Chạm vào chiều dài đất nước

Từ Cao Bằng, quê hương cội nguồn cách mạng, điểm đầu km 0 đường Hồ Chí Minh, Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó, chúng tôi hành trình đến điểm cuối đường Hồ Chí Minh nơi rừng đước, sóng biển phương Nam tại Đất Mũi, Khu du lịch Mũi Cà Mau (Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau). Giữa hai dấu mốc là chiều dài đất nước, chiều sâu lịch sử, thấm máu xương nhiều thế hệ. Đứng trước biển, trong đoàn ai cũng dâng lên xúc động và thiêng liêng. Trong tiếng máy xuồng, vị ngọt tôm, cua và câu chuyện giữ rừng đước, tình người Đất Mũi ấm áp, thân thuộc như bếp lửa bản làng nối gần hai miền quê nơi đầu - cuối con đường mang tên Bác Hồ kính yêu.

Hai dấu mốc, một dòng lịch sử

Gió biển lồng lộng, lá cờ Tổ quốc tung bay trên nền trời Đất Mũi. Chúng tôi xúc động đứng đọc dòng chữ ghi trên cột mốc: “Đường Hồ Chí Minh, điểm cuối Cà Mau, Km 2436”, rồi mở lại bức ảnh chụp tại Km 0, Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó, Cao Bằng trước chuyến đi. Hai khuôn hình đặt cạnh nhau, một bên núi đá biên cương, một bên rừng đước hướng ra biển, khiến chiều dài đất nước bỗng trở nên gần gũi, xúc động.

“Các anh, chị từ Cao Bằng mới vô hả? Vậy là đi từ đầu đường Hồ Chí Minh tới cuối đường rồi!” - chị Ba, người bán hàng lưu niệm tại Khu du lịch Mũi Cà Mau, niềm nở hỏi. Nghe chúng tôi kể về quê hương Cao Bằng, chị nói đã biết Pác Bó qua những bài học thuở nhỏ, vẫn ao ước một lần đến thăm nơi Bác Hồ trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng để đưa cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi vĩ đại (1941 - 1945). Giữa miền đất xa, nghe người vừa gặp nhắc tên quê mình bằng sự trìu mến, thân thương, trong lòng chúng tôi ấm lại trong hai chữ “đồng bào”.

Quen những cung đường uốn quanh sườn núi, chúng tôi ngỡ ngàng trước khoảng trời mở rộng trên sông nước phương Nam. Những con rạch len giữa rừng đước, những bộ rễ bám sâu vào bùn gợi nhớ cây rừng quê nhà Pác Bó, Trần Hưng Đạo… đã chắt chiu sự sống trong khe đá nuôi giấu cán bộ cách mạng. Khác dáng đất, thế cây, vẫn gặp ở đó sức sống bền bỉ của những người con kiên cường, anh dũng để bảo vệ đất biên cương và chủ quyền nơi đầu sóng, ngọn gió.

Đoàn công tác Báo và Phát thanh, truyền hình Cao Bằng đến điểm cuối đất nước Đất Mũi, tỉnh Cà Mau.

Đoàn công tác Báo và Phát thanh, truyền hình Cao Bằng đến điểm cuối đất nước Đất Mũi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28/1/1941, sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, đến Pác Bó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ miền biên viễn Cao Bằng, những quyết sách lịch sử, sự chở che của đồng bào và phong trào cách mạng từng bước góp sức làm nên thắng lợi của mùa Thu độc lập tháng 8/1945.

Về Cà Mau, chúng tôi được hiểu thêm một con đường mang tên Bác. Ngày 16/10/1962, tàu Phương Đông 1 chở 30 tấn vũ khí từ miền Bắc cập bến Vàm Lũng an toàn, ghi dấu chuyến vận chuyển mở đường của tuyến chi viện chiến lược trên biển. Sau hành trình vượt sóng, vượt vòng vây là những bến bãi được bảo vệ bằng lòng quả cảm, sự đùm bọc của quân và dân miền Nam.

Từ những nếp nhà chở che cán bộ ở Pác Bó đến những cánh rừng giấu tàu, giữ vũ khí ở Cà Mau, đồng bào hai miền cùng chung lòng tin vào Đảng, Bác Hồ đã sống và chiến đấu kiên cường, anh dũng để đất nước hoà bình, thống nhất. Giữa rừng đước, sóng biển phương Nam, chúng tôi nhớ những tác phẩm văn học đã gieo vào tâm trí từ thuở học trò: thiên nhiên và con người hào sảng trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, những người phụ nữ kiên trung trong Hòn Đất của Anh Đức, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Đình Thi… Qua từng trang sách, miền Nam trở nên gần gũi, gieo vào lòng người con miền núi niềm thương mến và ước mong một lần đặt chân tới. Nay đứng bên cột mốc Đất Mũi, tình cảm ấy hòa cùng niềm xúc động, biết ơn sâu sắc. Để chúng tôi được bình yên đi giữa non sông liền một dải, biết bao thế hệ đã gửi lại tuổi xuân, máu xương trên những nẻo đường cứu nước.

Ở quê nhà, tôi thường kể chuyện Pác Bó bằng niềm tự hào của người sở tại. Đến Đất Mũi, tôi muốn lắng nghe nhiều hơn, để mang về những câu chuyện của đồng bào phương Nam. Trước lúc chia tay, chị Ba nhờ gửi bức ảnh suối Lê-nin và nhắc lại ước muốn ra thăm Cao Bằng. Tôi nhận lời. Chuyến đi nối hai dấu mốc có thêm một cuộc hẹn, để tình người tiếp tục nối dài con đường mang tên Bác.

Vị đất, tình người dưới tán đước

Đọc đường đến Đất Mũi, xe chúng tôi đi qua những con rạch nhỏ. Hai bên, những bộ rễ cây mắm, cây đước cắm xuống bùn, đan nhau như bàn tay níu đất. Anh Bảy lái xe giảm máy, để chúng tôi nghe tiếng nước vỗ mạn, tiếng lá xào xạc. Chúng tôi vốn quen nhìn rễ cây len vào khe đá, nay bỗng chăm chú trước cây mắm, cây đước có cách bám đất khác: mềm mại giữa nước mà bền bỉ trước sóng.

Anh Nam hướng dẫn viên du lịch chỉ một khoảng rừng, kể chuyện con nước, chuyện đặt lú, bắt cua. Những từ ngữ còn lạ với người miền núi được giải thích bằng động tác bàn tay và nụ cười kiên nhẫn. Chúng tôi hỏi nhiều đến mức anh bật cười: “Các anh, chị cứ hỏi, mai mốt tui lên núi, tới lượt chị chỉ đường!”. Câu nói làm cả xe cười rộn lên.

Bữa cơm trưa tại Năm Căn nằm bên kênh rạch màu nước vàng mang nặng phù sa. Lẩu cua đỏ au vừa đặt xuống, hơi nóng đã quyện với mùi thức ăn. Đặc sản vùng Đất Mũi có tôm, cá thòi lòi, ốc len, vọp, rau kèo nẻo, rau đắng, bông điên điển… Những sản vật gắn với môi trường sông nước, rừng ngập mặn tạo nên nét riêng của bữa ăn phương Nam. Qua cách lựa chọn nguyên liệu, nêm nếm và mời khách, người dân kể chuyện quê hương bằng thứ ngôn ngữ dễ gần nhất: hương vị.

Chúng tôi kể cho anh, chị em miền Nam về món thịt vịt om mắc mật, về hạt dẻ Trùng Khánh bùi ngọt, hương cốm nếp Ong thơm dẻo, trám đen bùi ngậy vò xôi… chỉ có ở mùa thu Cao Bằng. Anh Nam hướng dẫn đoàn hỏi: Quả mác mật trông thế nào, vị ra sao, có mang vào Nam trồng được không? Câu chuyện từ mâm cơm đi qua khí hậu, đất đai, mùa vụ. Mỗi món ăn có một miền quê ở phía sau; muốn hiểu vị ngon, đôi khi phải hiểu cả nhọc nhằn của người làm ra nó.

Trong cuộc giao lưu nhỏ bên kênh rạch có tiếng đàn cất lên cùng một giọng ca tài tử. Tôi không thuộc làn điệu, chỉ lặng nghe cách người hát ngân dài rồi buông nhẹ một câu. Bỗng nhớ tiếng đàn tính, lời Then quê mình, nhớ những buổi gặp gỡ mà người lớn mở đầu bằng lời hỏi thăm và kết thúc bằng lời hẹn.

Chị Sáu mời khách Cao Bằng góp vui. Tôi kể về những phiên chợ vùng cao, về người Tày, Nùng, Mông, Dao… đón bạn đến nhà. Chẳng cần thuộc hết lời ca của nhau, chủ và khách vẫn tìm được câu chuyện chung. Rồi chúng tôi hào hứng giới thiệu nơi miền núi bằng hình ảnh chụp trên điện thoại về núi, có suối xanh cho anh em miền Nam xem và cùng nhau hẹn ngày đến thăm, trải nghiệm…

Có lẽ, điều níu chân người đi xa thường bắt đầu như vậy: một câu hỏi thật lòng, một bữa cơm mời thêm, một chỗ ngồi được kéo lại gần. Tôi đến tìm hình hài Đất Mũi trên bản đồ, rồi nhớ nơi này bằng gương mặt con người.

Đường mở tới đâu, quê hương gần tới đó

Tại Khu du lịch Mũi Cà Mau, chúng tôi lần lượt thăm cột mốc tọa độ quốc gia GPS0001, biểu tượng mũi tàu, cột cờ Hà Nội và Đền thờ Quốc tổ Lạc Long Quân. Giữa trời biển, những công trình gợi niềm tự hào về cội nguồn, chủ quyền và tình cảm của đồng bào cả nước dành cho vùng đất cực Nam. Với người từ Pác Bó đến đây, mỗi điểm dừng đều làm sâu thêm cảm nhận về một Việt Nam thống nhất.

Điểm biểu tượng mũi tàu tại Khu du lịch Mũi Cà Mau.

Điểm biểu tượng mũi tàu tại Khu du lịch Mũi Cà Mau.

Những chuyến xe nối nhau đưa khách đến. Nhìn khoảng sân rộn tiếng chào hỏi, tôi nghĩ tới dấu mốc ngày 16/01/2016, khi đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn - Đất Mũi cùng cầu Hòa Trung được thông xe. Từ miền đất nhiều cách trở bởi sông nước, giao thông mở thêm cơ hội giao thương, đón khách. Mỗi chuyến xe đến mang theo nhu cầu ăn nghỉ, trải nghiệm, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Theo lời giới thiệu của anh Nam, chúng tôi trải nghiệm ca nô xuyên rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau. Những thân đước vươn thẳng, bộ rễ đan cài bám lấy bùn đất. Ngồi giữa khoảng xanh ấy, tôi hiểu thêm giá trị của rừng đối với đời sống ven biển: giữ đất, chở che sinh cảnh, góp phần giảm tác động của thiên tai.

Đất Mũi hấp dẫn từ những điều cần chậm lại mới nhận ra: nhịp con nước, dáng rễ đước, cách người dân nương vào rừng để sống. Khi được giới thiệu cặn kẽ, chuyến tham quan trở thành dịp hiểu thiên nhiên và biết trân trọng công sức gìn giữ của cộng đồng.

Cùng với hạ tầng, cách đón khách của bà con cũng đổi thay. Phòng nghỉ được chăm chút, bữa ăn chuẩn bị theo nhu cầu, chuyến xuồng sắp xếp phù hợp. Người trẻ phụ gia đình giới thiệu dịch vụ, trả lời tin nhắn đặt chỗ. Lòng hiếu khách đang được bồi đắp bằng kỹ năng, để mỗi gia đình có thể làm du lịch chu đáo hơn.

Tôi nhớ những bản làng Cao Bằng cũng đang học cách kể chuyện quê mình. Từ miền núi đến miền biển, đường mở đem lại cơ hội, còn chất lượng dịch vụ và bản sắc tạo nên sức níu chân. Điều đáng quý là người dân có thể tăng thu nhập ngay trên quê hương bằng chính tri thức, văn hóa và sản vật của mình.

Trước lúc chia tay, chị Ba nhắc cuộc hẹn ra thăm Pác Bó. Nhận lời mời, tôi thấy mình có thêm một miền quê để nhớ. Trong điện thoại, hai bức ảnh đầu và cuối đường nằm cạnh nhau. Từ núi đá Cao Bằng đến rừng đước Cà Mau, con đường mang tên Bác nối những miền đất cùng khát vọng vươn lên. Từ Đất Mũi trở về, chúng tôi mang theo cả niềm tự hào lẫn trách nhiệm: gìn giữ cảnh sắc, trân trọng văn hóa, góp sức để người dân sống tốt hơn trên quê hương mình. Bởi tình yêu đất nước cần được tiếp nối bằng những việc làm thiết thực mỗi ngày.

Trường Hà - Kim Dung

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/tu-pac-bo-den-dat-mui-cham-vao-chieu-dai-dat-nuoc-3193776.html