Tự san lấp đất ao để trồng ngô, có bị phạt và được cấp sổ đỏ?

Thửa đất được ghi nhận là đất nuôi trồng thủy sản trên bản đồ địa chính nhưng chủ sử dụng đã đổ đất san lấp để trồng ngô. Trường hợp này có bị xử phạt về hành vi hủy hoại đất, không đăng ký đất đai và có được cấp sổ đỏ, chuyển mục đích sử dụng?

Theo phản ánh của công dân, ông Nguyễn Văn A. nhận chuyển nhượng một thửa đất từ hộ gia đình khác vào năm 2013. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, thửa đất được xác định là đất nuôi trồng thủy sản (NTS).

Đến năm 2019, bản đồ địa chính tiếp tục ghi nhận thửa đất là đất nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, năm 2024, ông A. đổ đất san lấp, tạo mặt bằng để trồng cây hàng năm khác (HNK), cụ thể là trồng ngô. Từ đó đến nay, thửa đất được sử dụng để trồng cây màu.

Nay ông A. có nhu cầu xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Qua kiểm tra thực địa, chính quyền địa phương phát hiện việc ông A. đổ đất làm mất hiện trạng đất NTS (đã được đo đạc và ghi nhận trên bản đồ địa chính năm 2019).

Từ tình huống này, công dân đặt vấn đề: Cơ quan chức năng có thể xử phạt ông A. về hành vi không đăng ký đất đai (quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định 123/2024) và hủy hoại đất (quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 123/2024) hay không?

Nếu thửa đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở tại thời điểm xử phạt, khi xử phạt vi phạm không khôi phục hiện trạng ban đầu của đất về đất NTS (nộp phạt gấp 2 lần số tiền phạt), sau đó xét cấp giấy chứng nhận cho ông A. theo hiện trạng là đất trồng cây hàng năm khác có được không?

Ngoài ra, sau khi được cấp sổ đỏ cho đất trồng cây hàng năm khác, ông A. có thể làm thủ tục chuyển mục đích sang đất ở hay không? Hoặc cơ quan chức năng có thể công nhận một phần diện tích theo hạn mức giao đất ở của địa phương là đất ở, phần còn lại là đất trồng cây hàng năm khác?

Đất ao sau khi san lấp, chuyển sang trồng cây hàng năm có được cấp sổ đỏ đất ở nếu phù hợp quy hoạch? Ảnh minh họa: Hồng Khanh

Đất ao sau khi san lấp, chuyển sang trồng cây hàng năm có được cấp sổ đỏ đất ở nếu phù hợp quy hoạch? Ảnh minh họa: Hồng Khanh

Trả lời nội dung trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết phản ánh của công dân chưa làm rõ thửa đất đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hay thuộc trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Vì vậy, cơ quan này chưa có đủ cơ sở để đưa ra câu trả lời cụ thể.

Tuy nhiên, Bộ dẫn các quy định liên quan tại Nghị định 123/2024 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, làm căn cứ để xác định hành vi vi phạm và hướng xử lý.

Cụ thể, tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định 123/2024, thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt đối với các hành vi quy định tại Điều 14, Điều 24, Điều 26 và Điều 27 được xác định là thời điểm đã thực hiện xong các hoạt động của hành vi vi phạm.

Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 123/2024, tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm được xác định theo người sử dụng đất, loại đất theo Điều 9 Luật Đất đai và hiện trạng sử dụng đất trước khi vi phạm, bao gồm địa hình, địa vật, công trình trên đất. Tình trạng này phải được ghi nhận trong biên bản vi phạm hành chính.

Việc xác định hiện trạng ban đầu cần dựa trên hồ sơ, tài liệu thể hiện tình trạng đất trước khi xảy ra vi phạm. Nếu không có hồ sơ, tài liệu, người có thẩm quyền lập biên bản phải xác minh trên cơ sở ý kiến trình bày của người vi phạm và ý kiến của UBND cấp xã.

Theo khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 14 Nghị định 123/2024, hành vi làm biến dạng địa hình có thể bị xử phạt nếu thuộc các trường hợp như thay đổi độ dốc bề mặt đất, hạ thấp bề mặt đất, san lấp đất có mặt nước chuyên dùng hoặc san lấp làm nâng cao, hạ thấp bề mặt đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, dẫn đến mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.

Quy định này có các trường hợp ngoại lệ, trong đó có một số hoạt động cải tạo đất phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, cho thuê, công nhận hoặc phù hợp với dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận.

Mức phạt đối với hành vi làm biến dạng địa hình được xác định theo diện tích đất vi phạm, cụ thể: Dưới 0,05ha phạt tiền từ 5-10 triệu đồng; từ 0,05ha đến dưới 0,1ha phạt tiền từ 10-20 triệu đồng.

Từ 0,1ha đến dưới 0,5ha phạt tiền từ 20-50 triệu đồng; từ 0,5ha đến dưới 1ha: Phạt tiền từ 50-100 triệu đồng; từ 1ha trở lên: Phạt tiền từ 100-200 triệu đồng.

Đối với hành vi vi phạm thuộc trường hợp không có tính khả thi để khôi phục tình trạng ban đầu của đất, mức phạt bằng 2 lần mức phạt tương ứng, nhưng tối đa không quá 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức.

Bên cạnh hình thức phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định là buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp việc khôi phục không có tính khả thi trên thực địa.

UBND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương để quy định những trường hợp không có tính khả thi và mức độ khôi phục tình trạng ban đầu của đất.

Không đăng ký đất đai có thể bị phạt đến 3 triệu đồng

Ngoài hành vi làm biến dạng địa hình, công dân cũng đặt vấn đề xử phạt ông A. về hành vi không đăng ký đất đai.

Theo Điều 16 Nghị định 123/2024, hành vi không thực hiện đăng ký đất đai lần đầu theo các trường hợp được quy định tại Luật Đất đai có thể bị phạt tiền từ 1-2 triệu đồng.

Đối với hành vi không đăng ký biến động đất đai thuộc các trường hợp được quy định, mức phạt là 2-3 triệu đồng. Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện đăng ký đất đai theo quy định.

Nghị định 281/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 123/2024 cũng sửa đổi khoản 2 Điều 16, quy định mức phạt 2-3 triệu đồng đối với hành vi không đăng ký biến động đất đai thuộc các trường hợp luật định, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo Điều 127 Luật Đất đai.

Đối với đề xuất không khôi phục hiện trạng đất nuôi trồng thủy sản, sau đó cấp sổ đỏ theo hiện trạng đất trồng cây hàng năm khác hoặc công nhận một phần diện tích là đất ở, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết chưa đủ cơ sở để kết luận.

Theo cơ quan này, do chưa có đầy đủ hồ sơ và tình tiết pháp lý cụ thể, chưa thể xác định ông A. có đủ hay không đủ điều kiện được chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị công dân liên hệ chính quyền địa phương nơi có đất để được hướng dẫn, xem xét và giải quyết theo quy định.

Hồng Khanh

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/tu-san-lap-dat-ao-de-trong-ngo-co-bi-phat-va-duoc-cap-so-do-2563157.html