Từ số hóa đến chuẩn hóa dữ liệu văn hóa
Số hóa đang mở ra cách thức mới để lưu giữ và khai thác các tư liệu, hiện vật, di sản văn hóa. Nhưng để nguồn dữ liệu ấy thực sự có giá trị lâu dài, cần chuẩn hóa, xác thực, kết nối và tổ chức thành cơ sở dữ liệu thống nhất, phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và phát huy giá trị văn hóa.
Lưu văn hóa bằng dữ liệu
Tại Hà Nội, nhiều di sản đang được đưa vào không gian số bằng những cách khác nhau. Văn Miếu - Quốc Tử Giám xây dựng cơ sở dữ liệu số, số hóa hiện vật và tư liệu Hán Nôm, đồng thời ứng dụng mã QR, thuyết minh tự động, triển lãm trực tuyến. Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội số hóa hiện vật khảo cổ bằng công nghệ 3D, phục dựng một số không gian kiến trúc dưới dạng số. Ở xã Quảng Bị, di tích đình làng Tốt Động được xây dựng hệ thống thông tin bằng mã QR, giúp người dân, du khách tra cứu lịch sử, kiến trúc và các điển tích, lễ hội của di tích trên điện thoại.

Phim 3D Mapping “Vun đắp hiền tài” tái hiện hành trình gần 1.000 năm của Quốc Tử Giám bằng dữ liệu lịch sử kết hợp hình ảnh, ánh sáng và âm nhạc. Ảnh: Ban tổ chức
Những cách làm này cho thấy số hóa đang thay đổi rõ rệt cách công chúng tiếp cận di sản. Hiện vật, di tích, những tư liệu vốn khó tiếp cận có thể trở thành nội dung để tra cứu, học tập, tham quan và trải nghiệm. Chẳng hạn, ấn phẩm “Nghê nơi cửa Khổng sân Trình” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn tích hợp công nghệ thực tế tăng cường, cho phép người đọc quan sát mô hình nghê 3D trên điện thoại.
Nhưng phía sau những sản phẩm đó là một công việc ít được nhìn thấy hơn: Tạo lập và tổ chức dữ liệu. Tại Bảo tàng Hà Nội, dữ liệu hiện vật đang được tạo lập trên phần mềm dùng chung của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hướng tới đồng bộ trên phạm vi toàn quốc. Gần 2.000 hiện vật thể khối tiêu biểu đang được số hóa dưới dạng 3D và VR360. Theo ông Đặng Minh Vệ, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội, cần hình thành mạng lưới hợp tác giữa cơ quan quản lý, bảo tàng, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và cộng đồng sáng tạo. Trong đó, bảo tàng cung cấp tư liệu gốc, dữ liệu khoa học; các đơn vị công nghệ chuyển hóa dữ liệu thành sản phẩm số. Kho dữ liệu cũng cần được chia sẻ theo quy định, bảo đảm tính xác thực và quyền sở hữu trí tuệ.
Dữ liệu văn hóa vì thế không chỉ phục vụ việc lưu giữ hay giới thiệu di sản. ThS Trần Thị Ngọc Hân, Cán bộ Văn hóa, Văn phòng UNESCO tại Hà Nội cho rằng dữ liệu ngày càng trở thành công cụ trọng tâm trong hoạch định chính sách phát triển công nghiệp văn hóa. Việc tích hợp dữ liệu giữa văn hóa với lao động, giáo dục, du lịch, đổi mới sáng tạo và hạ tầng số sẽ giúp nâng cao năng lực quản trị, đánh giá hiệu quả chính sách và phân bổ nguồn lực.
Thực tế tại Hà Nội cho thấy nguồn dữ liệu văn hóa đang ngày càng phong phú. Đó là tư liệu Hán Nôm, hồ sơ di tích, hiện vật khảo cổ, hình ảnh, phim tư liệu, tri thức của nghệ nhân, câu chuyện cộng đồng... Mỗi nguồn lại có cách lưu giữ, cập nhật và khai thác khác nhau. Ở cấp cơ sở, quá trình này cũng bắt đầu được triển khai gắn với từng di tích. Theo Phó Chủ tịch UBND phường Phú Diễn Chu Việt Dũng, UBND phường đang triển khai kế hoạch số hóa Đình Mai Dịch, đặt cùng yêu cầu bảo tồn những giá trị gốc của di tích, đồng thời tạo thêm nguồn tư liệu để người dân, nhất là thế hệ trẻ, tiếp cận lịch sử, văn hóa địa phương.
Vì thế, việc cần làm không chỉ là số hóa, mà là chuẩn hóa, xác thực, kết nối và tổ chức thành một nguồn tư liệu đủ tin cậy để sử dụng lâu dài. Xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa không chỉ để nhớ, mà còn tạo nền tảng cho quản trị, bảo tồn và phát huy.
Xây “kho ký ức” có hệ thống
Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định chuyển đổi số tạo dựng không gian mới cho phát triển văn hóa, đồng thời đặt yêu cầu xử lý hài hòa giữa đời sống thực và không gian số, giữa dữ liệu mở với bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số. Nghị quyết cũng yêu cầu xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, nền tảng số dùng chung; chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và quản trị dữ liệu bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số. Đáng chú ý, Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026.
Cùng với đó, Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 22-8-2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới xác định dữ liệu, dự báo, cảnh báo sớm là năng lực nền tảng, đồng thời đặt mục tiêu hình thành hệ thống thông tin, nền tảng số dùng chung thống nhất, liên thông, an toàn trên nền dữ liệu tin cậy, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia. Nghị quyết cũng yêu cầu hoàn thiện hệ thống học liệu số, dữ liệu số và kết nối với các kho dữ liệu số quốc gia. Như vậy, yêu cầu về dữ liệu không dừng ở việc đưa tư liệu lên môi trường số.

Bảo tàng Hà Nội trao đổi kinh nghiệm xây dựng nội dung tra cứu đa phương tiện, góp phần chuẩn hóa và khai thác dữ liệu bảo tàng. Ảnh: Bảo tàng Hà Nội
Theo ông Phạm Hữu Quang, Phó Trưởng ban Truyền thông Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Thông tin UNESCO, dữ liệu văn hóa là nguồn nguyên liệu quan trọng để hình thành những hệ thống có khả năng hiểu và tái tạo văn hóa Việt Nam. Ông đề cập các nhóm dữ liệu cần được số hóa như tài liệu lịch sử, văn kiện, sách, phim tư liệu, di sản phi vật thể, tiếng nói, chữ viết, âm nhạc dân gian, mỹ thuật, kiến trúc... Nguồn dữ liệu này có thể phục vụ lưu trữ, giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sản phẩm văn hóa mới.
Nhưng có dữ liệu vẫn chưa đủ. Với những lĩnh vực gắn với lịch sử, di sản và bản sắc, nguồn gốc và độ xác thực của dữ liệu quyết định giá trị của chính nguồn tư liệu đó. Nếu mỗi bảo tàng, thư viện, địa phương hay cơ quan nghiên cứu lưu giữ theo một cách khác nhau, dữ liệu sẽ khó kết nối và khai thác thống nhất.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Khánh, Đại học An ninh nhân dân, Bộ Công an, cho rằng cần xây dựng một “hệ sinh thái niềm tin” dựa trên thông tin chính xác, có khả năng tự thanh lọc và thích ứng. Bởi thế, dữ liệu văn hóa cần có nguồn gốc, mức độ xác thực và thông tin đi kèm để người khai thác có thể phân biệt tư liệu gốc, tư liệu phục dựng hay sản phẩm sáng tạo. Đây cũng là cơ sở hạn chế việc thông tin sai lệch về lịch sử, di sản và văn hóa được sao chép, tái sử dụng rồi trở thành nguồn tham chiếu cho những sản phẩm mới.
Từ đó, xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa cần được thực hiện theo một quy trình thống nhất: Chuẩn hóa tư liệu, xác định nguồn gốc, bảo vệ bản quyền, cập nhật thường xuyên và kết nối giữa các thiết chế văn hóa, cơ quan nghiên cứu, địa phương và cộng đồng sở hữu di sản. Điều này giúp giá trị văn hóa không chỉ được lưu giữ mà còn có thể phục vụ giáo dục, nghiên cứu, quản trị và phát triển các sản phẩm văn hóa.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tu-so-hoa-den-chuan-hoa-du-lieu-van-hoa-1757964.html



