Từ tù nhân Côn Đảo đến người Chính trị viên đầu tiên ở Kiên Giang
Ông Dương Ngọc Kim, biệt danh Năm Lửa, là người Chính trị viên đầu tiên của tỉnh Kiên Giang, ông có công xây dựng và lãnh đạo lực lượng vũ trang địa phương từ những ngày đầu cách mạng. Ông từng nắm giữ các chức vụ: Thường Vụ, Chính ủy Tỉnh đội Rạch Giá; Thường Vụ Tỉnh Ủy Long Châu Hà, Thường vụ Tỉnh ủy Cần thơ…
Vào Đảng chính thức sau 14 năm kết nạp
Theo tài liệu lưu trữ ghi trên thẻ đảng viên và lý lịch trích ngang, ông Dương Ngọc Kim sinh ngày 15/8/1912, quê quán Mỹ Hòa, Cầu Ngang, Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long). Ông được kết nạp Đảng vào tháng 1/1931. Nhưng ngay khi vào Đảng được vài tháng ông bị địch bắt giam vào nhà tù Côn Đảo. Sau khi vượt ngục thành công ông chuyển qua hoạt động bí mật. Và mãi đến 14 năm sau, ngày 1/1/1945 ông mới được vào Đảng chính thức. Bản lý lịch trích ngang của ông ghi: 1936-1945 hoạt động bí mật, tham gia phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa; Năm 1945 - 1954 Chính ủy Trung đoàn 123 và 126, Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng Rạch Giá (nay là tỉnh An Giang).

Ảnh tư liệu ông Dương Ngọc Kim
Trong một tài liệu được lưu giữ tại Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Tỉnh ủy Kiên Giang, thể hiện ông Dương Ngọc Kim vào bộ đội tháng 10/1945, tham gia mặt trận Cầu Kè. Sau đó về vùng Khánh An, Khánh Lâm (U Minh) xây dựng căn cứ cho bộ phận hậu cần và công binh xưởng của mặt trận Cầu Kè. Xong nhiệm vụ đó, ông xin ở lại vùng U Minh cùng các đồng chí ở địa phương xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể ở đây (trước đó ông là Huyện ủy viên ở Cà Mau).
Tháng 6/1946 ông được Khu trưởng Khu 9 và chỉ thị của Khu ủy Khu 9 bổ nhiệm giữ chức Chính trị viên phân đội chỉ huy về hoạt động ở tỉnh Rạch Giá, liên lạc móc nối với cán bộ địa phương lo củng cố, xây dựng, phát triển Đảng, đoàn thể và chính quyền. Chú trọng nâng cao sức chiến đấu của Vệ quốc Đoàn, bồi dưỡng, tăng cường cho các đơn vị đủ sức làm nòng cốt cho phong trào, chiến tranh du kích tỉnh Rạch Giá, giữ vững chính quyền cách mạng, đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của Nhân dân, bảo vệ các tuyến đường xung yếu bị địch uy hiếp.
Cùng thời gian này ông Dương Ngọc Kim, theo giấy ủy nhiệm của cấp trên, đã đứng ra thành lập Ủy ban kháng chiến hành chính xã, tổ chức du kích, giải tán Hội tề và trừ gian. Đến tháng 10/1946 đã xây dựng được chính quyền xã, đoàn thể và chi bộ ở các nơi gần đồn địch tại các vùng: Châu Thành, Nam Thái Sơn, Hòn Sóc, Hòn Me, Gò Quao, Giồng Riềng… Về quân sự đã tổ chức thêm được một phân đội đánh chiếm đồn Xáng Cụt, Kinh Xáng Thứ Ba, đồn Cái Bần và nhiều cứ điểm khác… Quân ta từ thế bị động đã chuyển sang chủ động làm chủ nông thôn, kiểm soát được vùng định hậu. Người dân yên ổn làm ăn, đóng góp nuôi quân, tạo dựng được nền kinh tế kháng chiến.

Thẻ đảng của ông Dương Ngọc Kim. Do bị tù đày và chiến tranh sau 14 năm kết nạp ông mới được vào chính thức
Trong cuốn Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh Kiên Giang 30 năm kháng chiến (1945 - 1975) - Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 2019, có đoạn viết về ông: Ngày 5/8/1946 Tỉnh ủy Rạch Giá Mở Hội nghị tại Quận Gò Quao (U Minh Thương ngày nay). Hội nghị thống nhất những vấn đề quan trọng và cấp bách, trong đó có nội dung: đề cử các ủy viên BCH Đảng bộ lâm thời, thành lập Ủy ban Hành chính Ban Chỉ huy quân sự tỉnh, trong đó ông Dương Ngọc Kim làm Chính trị viên. Như vậy, có thể nói ông Dương Ngọc Kim là Chính trị viên đầu tiên của tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang.
Nhiều chiến công mang dấu ấn của Dương Ngọc Kim
Kể về chiến công của ông Dương Ngọc Kim trong một tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử đảng Tỉnh ủy Kiên Giang thể hiện: Các trận đánh lớn, nhỏ tôi (Dương Ngọc Kim) nhớ không hết, nhưng có những trận điển hình như: cuộc tấn công đồn Thứ Ba lúc ban đêm hồi tháng 3/1947, có bộ phận súng cối tham gia, bắn bánh kích pháo vào đồn và xung phong đánh phá các cứ điểm, làm cản cầu, đắp đập ngăn sông khiến cho địch phải bỏ đi. Trận Kinh Tư Đập Đá, chặn địch không để cho chúng đi cướp phá của Nhân dân, vây bắt cán bộ; Trận đánh bọn Pháp đi còn ở Đồn Thái Bình đã tiêu diệt 1 Trung đội địch, thu nhiều súng, bắt nhiều quân địch. Đặc biệt bắt được sếp đồn (quan Một Pháp) đầu tiên ở khu 9, hai trận nói trên liên tiếp trong hai ngày 2 đêm vào trung tuần tháng 6/1947; Trận phục kích 2 tiểu đội địch đi càn tại Nam Thái Sơn, thu được một số súng và bắt được hai lính Pháp hồi tháng 8/1947. Trận đánh thủy lôi trên sông Ba Đình, hạ tàu địch, lấy được nhiều súng đạn hồi tháng 9/1947.

Ông Dương Ngọc Kim từng giữ nhiều chức vụ, trong đó có Thường Vụ Tỉnh Ủy Long Châu Hà
Tháng 9/1946, theo ý kiến của tập thể lãnh đạo và Tỉnh ủy Rạch Giá, ông Dương Ngọc Kim triệu tập hội nghị thành lập Chi bộ và hội nghị đã bầu ông giữ chức Bí thư. Tháng Giêng 1947, Bộ tư lệnh Khu ra lệnh giải tán Ban chỉ huy quân sự tỉnh Rạch Giá, thành lập Trung đội, ông Dương Ngọc Kim là Chính trị viên. Đến tháng 11/1947, Khu ủy ra chỉ thị thành lập Quân ủy và thành lập Chi đội. Khi thành lập Quân ủy ông Dương Ngọc Kim đã thuyên chuyển sang Sóc Trăng.
Cuối năm 1949, ông Dương Ngọc Kim giữ chức Chính trị viên trung đoàn 122 (Bộ đội địa phương Cần Thơ), về Đảng là Thường vụ Tỉnh ủy Cần thơ, được Ủy Ban Nam Bộ và Bộ Tư lệnh khu 9 điều động về Rạch Giá làm Tỉnh đội trưởng. Năm 1949-1950 tổ chức Đại hội tỉnh Đảng bộ Rạch Giá, ông được bầu vào Tỉnh ủy và được Ban chấp hành cử vào Thường vụ.

Đền tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ người có công tỉnh An Giang tại phường Rạch Giá. Ảnh: Hồng Lĩnh
Từ một đảng viên trung kiên bị bắt tù đày ở Côn Đảo ông Dương Ngọc Kim đã thể hiện bản lĩnh, mưu trí vượt ngục thành công, tiếp tục cống hiến cho cách mạng vì độc lập tự do của dân tộc. Ông hoạt động bí mật cho đến ngày Cánh mạng Tháng tám thành công. Khi ra hoạt động công khai ông là một trong những người tiên phong trong vai trò tham gia xây dựng tổ chức đảng, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp Dương Ngọc Kim có mặt ở hầu hết các mặt trận quan trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ông từng nắm giữ các chức vụ: Thường Vụ, Chính ủy Tỉnh đội Rạch Giá; Thường Vụ Tỉnh Ủy Long Châu Hà, Thường vụ Tỉnh ủy Cần thơ… Sau Hiệp định Genève 1954 ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Bộ Nội thương đến năm 1981 nghỉ hưu về sống tại TPHCM. Ông có 50 năm cống hiến cho cách mạng, 23 năm chống pháp và 27 năm làm việc cho các cơ quan ở Bộ Nội thương. Ông mất năm 1985, hưởng thọ 73 tuổi, có 54 năm tuổi đảng.
Công lao, chiến công nhiều nhưng ông chưa được tặng thưởng danh hiệu nào. Hiện cơ quan chức năng đang xem xét làm hồ sơ để truy tặng những danh hiệu mà ông xứng đáng nhận được.











