Tuổi trẻ của thiền sư Chuyết Công
Chuyết Công vốn là người thông minh, đĩnh ngộ, hiểu rộng kinh sử, chăm học đêm ngày, thường đến học tập ở chùa núi Tiệm Sơn.

Tác giả: Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu
Phật Tích - Trung tâm Phật giáo cổ nhất ở Việt Nam
Cuốn sách tổng hợp những nghiên cứu, khảo cứu có giá trị của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về chùa Phật Tích, làm nổi bật những giá trị tiêu biểu, độc đáo và đặc sắc về lịch sử, văn hóa của hệ thống di tích; những đóng góp quan trọng về tôn giáo, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật… của trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa này trải qua chiều dài lịch sử dân tộc.
Tuổi trẻ của thiền sư Chuyết Công
Chuyết Công vốn là người thông minh, đĩnh ngộ, hiểu rộng kinh sử, chăm học đêm ngày, thường đến học tập ở chùa núi Tiệm Sơn.
Năm Giáp Tuất (1034), niên hiệu Thiên Thành thứ 7 (1034), mùa Thu, tháng tám, Lý Thái Tông hoàng đế đến chùa Trùng Quang trên núi Tiên Du (nay là núi Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) sai dựng kho Trùng Hưng để cất chứa kinh phật.
Tương truyền, núi Phật Tích còn có tên là núi Lạn Kha, khởi nguồn từ câu chuyện người kiếm củi tên là Vương Chất vào núi đốn củi, thấy tiên đang đánh cờ nên mải mê chống rìu đứng xem, khi tan cuộc cờ đã mấy trăm năm, Vương Chất nhìn lại đã thấy cán rìu mục nát.
Đến đời Lý Thánh Tông hoàng đế, vào năm Giáp Thìn (1064), niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh, hoàng đế đã sai tướng Quánh Mãn xây tháp ở núi Tiên Du. Đến năm Tân Hợi (1071), niên hiệu Thần Vũ, mùa xuân tháng Giêng, hoàng đế Lý Thánh Tông đã đi đến núi Tiên Du viết chữ “Phật” dài 1 trượng 6 thước (khoảng hơn 6 m) đặt ở chùa Tiên Du (nay là chùa Phật Tích).
Bắt đầu từ thời nhà Lý, chùa Phật Tích và những ngôi chùa khác ở trung tâm Phật giáo Luy Lâu đã đi vào huyền thoại về truyền thừa Phật giáo và lưu giữ chứng tích của lịch sử. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử với rất nhiều vị thiền sư đắc đạo, khoảng đến thời nhà Lê, chùa Phật Tích đã có một thiền sư đắc đạo nối tiếp trang lịch sử truyền thừa Phật giáo, đó chính là hòa thượng Chuyết Công với tên gọi khác là hòa thượng Chuyết Chuyết.

Tượng thiền sư Chuyết Chuyết trong tháp Báo Nghiêm. Ảnh: Báo Giác Ngộ.
Thuở nhỏ, hòa thượng Chuyết Công có tên là Viên Văn, tên thường gọi là Chuyết Chuyết, người núi Tiệm Sơn, Hải Trừng, Thanh Chương, Mân Điền (Trung Quốc). Ông là dòng dõi người họ Lý, ông nội tên là Kiều và cha tên húy là Nhược Lâm, mẹ ông là người họ Sái. Trước khi sinh ra ông, mẹ ông nằm mộng thấy một bông sen mọc trên bụng và sau đó mang thai ba năm mới sinh. Vì thế lúc sinh ra hòa thượng Chuyết Công còn có tên húy là Tân Liên (tức bông sen vàng).
Hòa thượng Chuyết Công sinh giờ Sửu, ngày Giáp Tuất, mồng 2 tháng hai năm Canh Dần, niên hiệu Vạn Lịch thứ 17 triều Minh (tức năm 1590 công lịch). Năm lên 5 tuổi, mẹ ông qua đời; năm lên 7 tuổi, cha ông mất, ông nội phải dắt ông đến nhờ người thím dâu nuôi dưỡng.
Chuyết Công vốn là người thông minh, đĩnh ngộ, hiểu rộng kinh sử, chăm học đêm ngày, thường đến học tập ở chùa núi Tiệm Sơn. Có vị hành giả thấy ông mải học đến ho cả ra máu liền đến bạch với Trưởng lão. Trưởng lão nghe nói liền đến xem và hỏi rằng: “Thư sinh làm sao mà có bệnh này?”. Ông đáp: “Đọc sách”. Tăng hỏi: “Đọc sách thì có bệnh nghiệp gì vậy?”. Ông đáp: “Giúp nước an dân”.
Vị Trưởng lão cười nói: “Hay lắm, khéo thay. Thực đúng là đem cái chí nội tâm xung thiên chẳng qua cũng vì lòng tham danh lợi, chẳng hề đoái hoài gì đến diện mạo bản gốc của sinh tử thì có ích gì?”. Nhìn nét mặt thấy sư vẫn chưa hiểu, vị Trưởng lão bèn sai hành giả mang ra một cái trống rồi đưa ra trước mặt nói: “Cái mặt trống này bằng da dê, thân nó bằng gỗ ghép, bên ngoài cái trống chẳng còn vật gì khác, nội tâm bên trong nó là hư không. Trước khi đánh trống thì làm gì có tiếng kêu (danh), sau khi đánh trống thì danh nhân nghiệp sinh. Danh tiếng cũng giống như tiếng trống nhất thời rồi sẽ lặng câm, nghiệp chướng sẽ tòng theo vạn cổ sẽ chìm đắm. Vậy cái danh này từ đâu sinh ra vậy?”.
Chuyết Công ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi chợt nhận ra tất cả. Căn bản đạo lớn không có chân tính, cái danh chỉ như bong bóng không có thực. Nghĩ đến đó, Chuyết Công bèn nói: “Công danh cái thế cũng chỉ là hư vọng, thế lực hơn người cũng chỉ nặng mang nghiệp chướng, văn chương rạng ngời cũng chỉ như buộc danh dự, sói lang buộc vào thân tựa như ruồi nhặng bay vo ve”.
Kể từ đó, Chuyết Công đã bỏ Nho, theo học Phật để nghiên cứu tôn chỉ cõi vô sinh, đàm đạo luận thuyết tối thượng thừa, tham thiền nhập định. Sau đó vài tháng, ông nội và thím dâu của Chuyết Công biết chuyện ông đã quy y, họ bèn tức tốc đi đến chùa để buộc ông về hoàn tục. Thấy vậy, ông đã bàn bạc với chư tăng trong chùa và ngay đêm đó ngài đã đi đến am Bồ Đề ở chùa Nam Sơn, Trung Quốc yết kiến Trạng nguyên tăng Đà Đà pháp sư để tiếp tục vào con đường theo học phật pháp. Sau khi gặp gỡ, Đà Đà pháp sư thấy lời lẽ của sư khác thường, Đà Đà pháp sư bèn nói với chúng tăng: “Một ngày nào đó ta sẽ đứng cách con người này ngoài trăm trượng rồi ngả mũ tiếp nhận tôn chỉ môn phái để khai ngộ”.
Ngày tháng dần trôi, đến năm Chuyết Công 18 tuổi, tức năm Vạn Lịch thứ 35 (1608) vào ngày lễ Phật đản sinh, sư đã thụ học qua 250 Tỳ kheo học phái Vô tướng, tiếp nhận bí pháp chân truyền hơn 84.000 môn. Sau đó, ngài đi du hóa bốn phương để hoằng pháp và độ cho chúng sinh. Khi đến nước Miên (tức Campuchia ngày nay), quốc vương đất nước đã kính lễ dâng mũ áo và coi ngài như những quan đại thần trọng yếu của triều đình.
Lúc bấy giờ người dân nước Miên phải chịu một tai nạn khủng khiếp, do có quá nhiều kênh rạch nên cá sấu phát triển tràn lan chuyên ăn thịt người. Một hôm, quốc vương nước Miên và Chuyết Công đi điền dã thấy tình hình dân chúng như vậy, ngài đã viết một bài văn sớ thả xuống nước, từ đó tai nạn cá sấu ăn thịt người giảm dần, người dân nước Miên càng cảm ân Phật pháp và ghi nhận công đức vô lượng của Hòa thượng Chuyết Công.
Ở nước Miên được khoảng 16 năm, hòa thượng Chuyết Công dâng biểu tấu xin quốc vương được về nước, quốc vương nước Miên không chấp thuận nhưng không lưu giữ được nên đành để ngài về nước. Từ quốc vương đến hết thảy các quan khi đưa tiễn đều tặng hòa thượng Chuyết Công kim ngân, vàng bạc vô số, nhưng ngài không nhận.
Bỗng nhiên từ trong đám đông đưa tiễn có một thiện nam tử lấy từ trong tay áo ra một nén vàng chỉ khoảng hai lạng dâng tặng. Ngài vui vẻ nhận lấy và nói: “Hay lắm, khéo thay, chừng này cũng đủ tiền phí tổn để ta chi dùng trên đường xa ngàn dặm”. Nói xong, hòa thượng Chuyết Công từ tạ quốc vương và triều thần nước Miên quay về Trung Quốc.
Khi về đến nhà ở huyện Thanh Chương, Mân Điền (Trung Quốc), người thím dâu của hòa thượng Chuyết Công lén mở hành lý ra xem thì thấy trong đó chẳng có đồ đạc gì đáng giá. Trong túi của ngài chỉ có một cái bát với đôi đũa và những tờ giấy ghi chép kinh phật bằng chữ Hán. Nhưng danh tiếng của hòa thượng Chuyết Công đã nổi tiếng khắp Trung Hoa, đặc biệt trên từ quan lại dưới là thứ dân ai ai cũng ngưỡng mộ. Mỗi khi có nơi tụ họp bàn về Phật giáo, người ta đều nói: Như hòa thượng Chuyết Công mới đích thực là tôn sư của thiền môn.
Ngụ cư nơi thiền quán với vài gian nhà đơn sơ mà phật pháp cao rộng, tự tựu duyên mà thành tựu ở vườn Đức Phật giảng kinh. Khi từ biệt quan lại và dân chúng địa phương trước khi sang Đại Việt, hòa thượng Chuyết Công nói: “Kẻ sĩ quyến luyến với chốn quê hương cũ cũng chưa hẳn là điều hay”. Nói xong, hòa thượng Chuyết Công xuống thuyền đi về miền Thuận Hóa, Quảng Nam, Việt Nam.
Nguồn Znews: https://znews.vn/tuoi-tre-cua-thien-su-chuyet-cong-post1689303.html
