Tuyên ngôn Độc lập - bản hùng ca khẳng định quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam

Ngày 2/9/1945 đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi của dân tộc Việt Nam. Tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là sự kiện mang tầm vóc lớn lao trong lịch sử hiện đại Việt Nam, đánh dấu sự chấm dứt chế độ thực dân phong kiến kéo dài hàng thế kỷ, mở ra kỷ nguyên mới của độc lập, tự do và phát triển. Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một văn kiện pháp lý có ý nghĩa trọng đại đối với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới, mà còn là một bản hùng ca bất hủ, phản ánh ý chí và khát vọng ngàn đời của dân tộc về quyền sống, quyền làm người, quyền được làm chủ vận mệnh quốc gia dân tộc.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập - Ảnh: Tư liệu

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập - Ảnh: Tư liệu

Với tầm nhìn chiến lược và tư tưởng cách mạng kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo các giá trị phổ quát của nhân loại về quyền con người, quyền dân tộc vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, làm nổi bật lập luận khẳng định quyền độc lập, tự chủ và chính nghĩa của dân tộc ta.

Bối cảnh lịch sử ra đời bản Tuyên ngôn Độc lập

Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Phát xít Đức, Ý bị đánh bại ở châu Âu. Tại châu Á, phát xít Nhật lâm vào tình trạng suy yếu trước các đòn tấn công của quân Đồng minh. Tháng 8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản, phát động chiến dịch quân sự quy mô lớn tại Mãn Châu (Trung Quốc), thúc đẩy sự sụp đổ nhanh chóng của phát-xít Nhật. Ngày 15/8/1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh không điều kiện.

Ở Việt Nam, từ tháng 3/1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Theo chỉ thị của Thường vụ Trung ương, cách mạng cả nước chuyển sang trạng thái khởi nghĩa cục bộ, từng phần, tạo đà, tạo thế sẵn sàng tổng khởi nghĩa. Khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, thời cơ "ngàn năm có một" của cách mạng Việt Nam đã đến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc lập tức vùng lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trên phạm vi cả nước trong vòng hai tuần lễ (từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945). Ngày 28-8-1945, Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, tình hình đất nước đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tuyên bố độc lập nhằm: Khẳng định chủ quyền quốc gia, đánh dấu sự ra đời của một nhà nước mới; thuyết phục quốc tế công nhận chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; bác bỏ mọi âm mưu phục hồi ách thống trị của thực dân Pháp hoặc các thế lực phản động quốc tế khác; cổ vũ toàn dân đoàn kết, giữ vững thành quả cách mạng.

Trong bối cảnh đó, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới sự ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Nội dung và giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập

Một là, cơ sở pháp lý và giá trị tư tưởng trong bản Tuyên ngôn.

Kết cấu của Tuyên ngôn gồm ba phần. Trong phần mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn các tư tưởng tiến bộ của nhân loại để xây dựng nền tảng lý luận về quyền con người và từ đó phát triển thành quyền dân tộc. Phần thứ hai là bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát-xít Nhật tại Việt Nam.Phần kết, Người khẳng định dứt khoát sự ra đời của nhà nước Việt Nam mới và ý chí bảo vệ độc lập dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập luận theo trình tự từ lý luận chung về quyền con người, đến thực tiễn lịch sử cụ thể về tội ác của thực dân và kết thúc bằng hành động chính trị cụ thể nhằm tuyên bố độc lập. Đây là kết cấu chặt chẽ, logic, có sức thuyết phục cao, vừa bảo đảm tính khoa học, vừa thể hiện bản lĩnh chính trị và trí tuệ của người lãnh đạo cách mạng. Người đã khẳng định quyền con người và quyền dân tộc khi kết hợp tính chặt chẽ trong lập luận, tính logic trong triển khai ý tưởng và đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa cơ sở pháp lý quốc tế với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo dẫn chiếu lại hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng của lịch sử nhân loại: Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 nhằm đặt cuộc cách mạng Việt Nam vào dòng chảy tư tưởng tiến bộ, đồng thời nâng tầm giá trị quyền con người lên bình diện dân tộc. “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1). Việc trích dẫn này không chỉ thể hiện tầm vóc trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn tạo cơ sở để khẳng định dân tộc Việt Nam có đầy đủ điều kiện lịch sử và pháp lý để độc lập như các dân tộc khác trên thế giới.

Từ lập luận về quyền con người, bản Tuyên ngôn Độc lập đã tiến tới khẳng định quyền dân tộc: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay... dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(2); khẳng định chính nghĩa của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng, khẳng định một cách dứt khoát quyền tự quyết, tự chủ và độc lập toàn diện của nước ta.

Tuyên ngôn Độc lập là bản cáo trạng đanh thép về tội ác thực dân và phát xít. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liệt kê cụ thể những tội ác mà chính quyền thực dân Pháp đã gây ra tại Việt Nam: “Chúng đã thi hành những luật pháp dã man... Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học... Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”(3).

Tội ác của thực dân Pháp còn được bản Tuyên ngôn chỉ rõ:

“Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”(4).

Không dừng lại ở đó, bản Tuyên ngôn tiếp tục tố cáo hành vi cấu kết với phát xít Nhật của thực dân Pháp: “Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9/3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa…”(5).

Những lập luận hùng hồn đó vừa là sự tố cáo đanh thép, vừa là chứng cứ lịch sử xác đáng, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc về “công lao khai hóa” của thực dân Pháp, làm rõ tính chính đáng và hợp pháp của Cách mạng Tháng Tám và quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn đã khẳng định quyền lập quốc, chính danh của Chính phủ cách mạng lâm thời, khẳng định tính pháp lý khi dân tộc ta nổi dậy giành chính quyền: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam… Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”(6).

Phần cuối Bản Tuyên ngôn là lời khẳng định mạnh mẽ: “Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(7). Đây là lời tuyên bố mang tính thiêng liêng và chiến lược, không chỉ gửi đến nhân dân Việt Nam, mà còn gửi đến các thế lực quốc tế - đặc biệt là các nước Đồng minh - để công nhận chính thể mới, đồng thời thể hiện ý chí bất khuất, sẵn sàng hy sinh tất cả vì nền độc lập, chủ quyền.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan Triển lãm "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"_Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan Triển lãm "80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"_Ảnh: TTXVN

Hai là, giá trị lịch sử và tầm vóc thời đại của Tuyên ngôn Độc lập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam gắn liền với thời đại. Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại, mà cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và cách mạng tư sản Pháp 1789 là những cột mốc lớn của lịch sử loài người. Đó là nền tảng để khẳng định rằng, thành quả cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào mùa thu năm 1945 là một cột mốc tiếp theo trong tiến trình phát triển của lịch sử giải phóng con người, vì đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc nhỏ yếu thoát khỏi ách của chủ nghĩa thực dân. Tuyên ngôn Độc lập không chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam, mà còn là tuyên ngôn mang tính thời đại, là tiếng nói của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Những tư tưởng lớn của bản Tuyên ngôn Độc lập là những tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam, cũng là những tư tưởng lớn của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ có giá trị trong thời điểm năm 1945, mà còn là cột mốc tư tưởng dẫn đường cho cách mạng Việt Nam suốt thế kỷ XX và tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới và hội nhập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thế kỷ XXI. Trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc được nêu trong bản Tuyên ngôn vẫn là kim chỉ nam trong hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước. Việc giữ vững chủ quyền quốc gia, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và phát huy bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa chính là sự kế thừa trung thành và sáng tạo tư tưởng Tuyên ngôn Độc lập năm xưa. 80 năm đã trôi qua, nhưng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền con người, quyền dân tộc và sự thống nhất biện chứng giữa quyền con người và quyền dân tộc, về khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền độc lập, tự do, vẫn vẹn nguyên tính thời sự, có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Khối xe Tăng thiết giáp diễu binh trên Quảng trường Ba Đình trong chương trình Tổng duyệt cấp nhà nước Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9_Ảnh: TTXVN

Khối xe Tăng thiết giáp diễu binh trên Quảng trường Ba Đình trong chương trình Tổng duyệt cấp nhà nước Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành chào mừng 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9_Ảnh: TTXVN

Những bài học mang giá trị lịch sử và thời đại từ Tuyên ngôn Độc lập

Thứ nhất, bài học về vai trò quyết định của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn Độc lập chỉ thành công khi toàn dân đồng lòng đứng lên vì một mục tiêu chung: độc lập - tự do. Đây là bài học xuyên suốt mà ngày nay, trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước vẫn coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực và nguồn lực quan trọng hàng đầu.

Thứ hai, bài học về sự kết hợp giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Bản Tuyên ngôn không chỉ bắt nguồn từ truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất của dân tộc, mà còn tiếp thu tinh hoa tư tưởng tiến bộ của nhân loại. Tư duy “hòa nhập mà không hòa tan” là chìa khóa để giữ vững bản sắc và nâng tầm vị thế Việt Nam trong hội nhập.

Thứ ba, bài học về bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng bản Tuyên ngôn như một công cụ ngoại giao chiến lược, khéo léo dẫn dắt dư luận quốc tế, vận dụng luật pháp quốc tế vào việc bảo vệ chính nghĩa dân tộc. Đây là minh chứng cho vai trò không thể thay thế của cá nhân kiệt xuất trong những thời điểm bước ngoặt lịch sử.

Thứ tư, bài học về ý chí độc lập, tự chủ trong mọi hoàn cảnh của toàn dân tộc, gắn liền với bản lĩnh chính trị và sự nhạy bén chính trị của Đảng. Tinh thần của bản Tuyên ngôn là khẳng định quyền tự quyết, tự chủ của dân tộc, khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập trước mọi thế lực, âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước. Trong bối cảnh hiện nay khi tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường; sự đan cài các lợi ích và cả những thách thức đến từ kinh tế, an ninh, công nghệ và văn hóa trong quan hệ quốc tế càng đòi hỏi phát huy cao độ ý chí độc lập, tự chủ, tự cường, khát vọng phát triển của toàn thể dân tộc Việt Nam gắn liền với những quyết sách đầy bản lĩnh và nhạy bén của Đảng.

Thứ năm, bài học về sức mạnh của ngôn từ và tư tưởng trong đấu tranh cách mạng. Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là văn kiện chính trị, mà còn là tác phẩm mẫu mực về lý luận và nghệ thuật ngôn từ. Điều này nhấn mạnh vai trò của công tác tuyên truyền, tư tưởng trong việc xây dựng niềm tin, tạo đồng thuận xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, văn kiện kết tinh sâu sắc tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong bản Tuyên ngôn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh - với tư duy chính trị sâu sắc, tầm nhìn chiến lược đã tuyên bố với toàn thế giới về sự chấm dứt của ách thống trị thực dân, khẳng định một cách đầy đủ và dứt khoát nền độc lập, quyền sống và quyền làm chủ vận mệnh quốc gia của nhân dân Việt Nam. Bản tuyên ngôn không chỉ là sự khẳng định về mặt pháp lý và thực tiễn cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là tiếng nói của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, là sự thể hiện đầy đủ nhất tính chính nghĩa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Trải qua 80 năm lịch sử, Tuyên ngôn Độc lập càng chứng minh sức sống mãnh liệt trong đời sống chính trị, tư tưởng, văn hóa và pháp lý của dân tộc ta. Trong bối cảnh mới hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hội nhập sâu rộng với thế giới, đối mặt với nhiều thách thức về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển kinh tế, bảo vệ độc lập dân tộc và lợi ích quốc gia, tinh thần Tuyên ngôn Độc lập tiếp tục soi sáng con đường đi tới: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nâng cao nội lực đất nước; giữ vững chủ quyền; đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế một cách toàn diện, vững chắc. Tuyên ngôn Độc lập sẽ mãi là bản hùng ca bất tử, nền tảng tư tưởng trường tồn cho con đường phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 1
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 3
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 1 - 2
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 2
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 2
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 2 - 3
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 3

PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà - TS Vũ Thái Dũng,Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

PGS, TS Nguyễn Ngọc Hà - TS Vũ Thái Dũng

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/tuyen-ngon-doc-lap-ban-hung-ca-khang-dinh-quyen-doc-lap-tu-chu-cua-dan-toc-viet-nam-389498.html